Một số vướng mắc trong thực tiễn giải quyết các vụ án người chưa thành niên phạm tội
Người chưa thành
niên (NCTN) là nhóm chủ thể đặc biệt trong pháp luật hình sự, có sự phát triển
chưa hoàn thiện về thể chất và tâm lý, do đó cần được Nhà nước bảo vệ, giáo dục
và hỗ trợ tái hòa nhập xã hội. Chính sách hình sự đối với NCTN vì vậy luôn thể
hiện rõ tính nhân đạo, lấy giáo dục, thuyết phục làm trọng tâm, hạn chế tối đa
việc áp dụng hình phạt nghiêm khắc.
Hệ thống pháp luật
Việt Nam đã hình thành khung pháp lý tương đối đầy đủ về xử lý NCTN, đặc biệt
trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Bộ luật Tố tụng
hình sự và Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 (có hiệu lực từ
01/01/2026). Đây là bước tiến quan trọng trong việc thể chế hóa chính sách hình
sự nhân đạo đối với người dưới 18 tuổi.
Tuy nhiên, trong
thực tiễn áp dụng đặc biệt là trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, vẫn
còn tồn tại những vướng mắc, bất cập nhất định. Cụ thể như sau:
1.
Vướng mắc về án tích và tiền sự đối với người chưa thành niên phạm tội
Bộ luật Hình sự và Luật Tư pháp người chưa thành niên đều quy định theo
hướng nhân đạo, giảm nhẹ hậu quả pháp lý đối với NCTN phạm tội.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự và khoản 1 Điều 127
Luật Tư pháp người chưa thành niên, NCTN bị kết án được coi là không có án tích
nếu thuộc các trường hợp luật định như: người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi; hoặc
người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng hoặc rất
nghiêm trọng do vô ý. Như vậy, về nguyên tắc, án tích không được coi là căn cứ
bất lợi để xác định tình trạng pháp lý của NCTN trong lần phạm tội sau.
Tuy nhiên, đối với xử lý vi phạm hành
chính, Luật Xử lý vi phạm hành chính lại quy định thời hạn để được coi là chưa
bị xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên được quy định tại
Điều 137 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2022 sửa đổi năm 2025 như sau:
“1. Người chưa thành niên được coi là
chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nếu trong thời hạn 6 tháng, kể từ ngày chấp
hành xong quyết định xử phạt hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử
phạt mà không tái phạm.
2, Người chưa thành niên bị áp dụng biện
pháp xử lý hành chính nếu trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết
định xử lý hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử lý mà không tái phạm
thì được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính”.
Như vậy, Luật xử lý vi phạm hành
chính quy định các trường hợp bị xử phạt vi phạm hành chính đối với người chưa
thành niên như phạt cảnh cáo, phạt tiền…với thời hạn 6 tháng, áp dụng biện pháp
xử lý hành chính như giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc biện pháp đưa vào
trường giáo dưỡng…với thời hạn 01 năm nếu không tái phạm thì người chưa thành
niên mới được coi là không có tiền sự. Từ sự quy định khác nhau của Bộ luật
hình sự và Luật xử lý vi phạm hành chính đã làm phát sinh vướng mắc do sự khác
biệt giữa hai chế định, cụ thể:
Trong lĩnh
vực hình sự, NCTN được xóa án tích gần như ngay khi đáp ứng điều kiện luật
định; Nhưng
trong lĩnh vực hành chính, tiền sự vẫn tồn tại trong thời hạn nhất định và có
thể được sử dụng làm căn cứ đánh giá khi xem xét trách nhiệm hình sự lần sau. Điều này dẫn đến
tình trạng thiếu thống nhất trong đánh giá nhân thân người chưa thành niên, ảnh
hưởng đến việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn.
Ví dụ: NCTN A bị xử phạt vi phạm
hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, chưa hết thời hạn 06 tháng hoặc 01 năm
theo luật định, sau đó tiếp tục thực hiện hành vi tương tự. Khi đó, tiền sự
được xem xét như tình tiết bất lợi là căn cứ để làm yếu tố định tội, A sẽ bị
khởi tố về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173BLHS
với tình tiết định khung “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm
đoạt tài sản mà còn vi phạm”, trong khi nếu đã bị xét xử hình sự về tội “ Trộm
cắp tài sản” trước đó lại không bị coi là án tích trong trường hợp tương ứng.
Sự khác biệt này gây ra sự bất lợi cho người chưa thành niên khi tiền sự vẫn bị
áp dụng.
2. Vướng mắc trong áp dụng biện pháp xử
lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên
Luật Tư pháp người chưa thành niên
đã thiết lập cơ chế xử lý chuyển hướng nhằm hạn chế truy cứu trách nhiệm hình
sự, tạo điều kiện cho NCTN được giáo dục, phục hồi trong môi trường cộng đồng. Tuy
nhiên, thực tiễn áp dụng còn một số khó khăn:
Thứ nhất, tiêu chí áp dụng biện pháp
chuyển hướng (tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi; nhân thân; khả năng phục
hồi; mức độ an toàn xã hội) còn mang tính định tính, chưa có hướng dẫn cụ thể,
dẫn đến cách hiểu và áp dụng chưa thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố
tụng.
Thứ hai, việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng đòi hỏi sự phối hợp giữa
các cơ quan tiến hành tố tụng với gia đình, nhà trường, chính quyền địa phương
và các cơ quan bảo trợ xã hội. Tuy nhiên, hiện nay chưa có hướng dẫn cụ thể thực
hiện cơ chế phối hợp, việc đảm bảo về nhân lực đặc biệt những người làm công
tác xã hội chủ yếu từ các xã, phường chưa được tập huấn, hiểu rõ cách làm, quy
trình thực hiện trong việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng đối với người
chưa thanh niên phạm tội. Điều này dẫn đến khó khăn nhất định trong quá trình vận
dụng quy định của pháp luật khi áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng đối với
NCTN.
3. Kiến nghị, đề xuất
Một là, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ
sung quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính theo hướng thống nhất hơn với
chính sách hình sự đối với NCTN, đặc biệt là việc xác định thời hạn được coi là
chưa bị xử lý vi phạm hành chính, theo hướng loại trừ trường hợp NCTN đã chấp
hành xong quyết định xử phạt nhằm bảo đảm tính thống nhất trong chính sách pháp
luật.
Hai là, cơ quan có thẩm quyền sớm ban hành văn bản hướng dẫn thi hành
Luật Tư pháp người chưa thành niên, trong đó quy định rõ: Tiêu chí cụ thể áp
dụng biện pháp xử lý chuyển hướng; Quy trình áp dụng thống nhất giữa các cơ
quan tiến hành tố tụng; Cơ chế phối hợp giữa cơ quan tư pháp, gia đình, nhà
trường và chính quyền địa phương.
Ba là, tăng cường đào tạo, tập huấn
chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ làm công tác tư pháp và công tác xã hội ở cơ sở
nhằm bảo đảm việc áp dụng biện pháp chuyển hướng được thống nhất, đúng pháp
luật và có hiệu quả thực tiễn.
Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật
và hướng dẫn áp dụng thống nhất trong giải quyết các vụ án liên quan đến người
chưa thành niên là yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh cải
cách tư pháp hiện nay. Điều này không chỉ bảo đảm tính nhân đạo của pháp luật
mà còn góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm trong lứa
tuổi chưa thành niên, hướng tới mục tiêu giáo dục và tái hòa nhập bền vững.,/
Dương Thị Hằng
Phó viện trưởng Viện KSND khu vực 8 - Nghệ
An.