image banner
Vướng mắc trong áp dụng Điều 256a Bộ luật Hình sự về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”

Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) được bổ sung nhằm tăng cường tính răn đe và phòng ngừa đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến các loại tội phạm và nhiều tệ nạn xã hội khác.

Trước đây, hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy” không được quy định là tội phạm trong Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) mà chỉ bị xử lý hành chính theo Nghị định 144/2021/NĐ-CP. Tuy nhiên, thực tế cho thấy hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đang có chiều hướng gia tăng, nhiều đối tượng tái sử dụng ma túy nhiều lần, các biện pháp cai nghiện ma túy không đem lại hiệu quả, tình hình tội phạm gây hậu quả nguy hiểm xã hội có nguyên nhân chính xuất phát từ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, yêu cầu của công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm ma túy cần phải quyết liệt, trong đó tập trung xử lý nghiêm các hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên cần thiết phải xem xét hình sự hóa hành vi này.

Việc bổ sung hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy” là tội phạm có ý nghĩa tích cực để răn đe, phòng ngừa vi phạm, tội phạm nhưng quá trình áp dụng Điều 256a Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025) đã bộc lộ không ít vướng mắc và bất cập trong thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử.  

Khó khăn trong xác định hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”

Một trong những thách thức lớn nhất là xác định hành vi sử dụngchứng minh yếu tố lỗi của người phạm tội. Hiện nay, phần lớn các vụ việc được phát hiện thông qua kiểm tra nhanh nước tiểu hoặc mẫu máu, tuy nhiên: Kết quả dương tính chỉ chứng minh người đó có chất ma túy trong cơ thể, chứ không xác định được thời điểm, địa điểm, hay hình thức sử dụng. Trong một số trường hợp, người bị kiểm tra chất ma túy khai rằng vô tình hít phải, bị ép buộc hoặc không biết đó là ma túy dẫn đến khó xác định là do lỗi vô ý hay do lỗi cố ý. Pháp luật chưa có hướng dẫn cụ thể thế nào là “sử dụng trái phép” trong các tình huống gián tiếp (ví dụ: hít phải khói ma túy trong không gian kín, uống đồ uống bị pha ma túy…). Do đó, việc chứng minh tội danh trong thực tế rất khó khăn, có thể  dẫn đến oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm.

Anh-tin-bai

KSV kiểm sát việc lấy lời khai đối tượng

Chưa có hướng dẫn cụ thể như thế nào thì được coi là “Đang trong thời hạn cai nghiện ma túy”

Điểm a khoản 1 Điều 256a quy định: “Đang trong thời hạn cai nghiện ma túy...”. Tuy nhiên, trên thực tế, khái niệm “đang trong thời hạn cai nghiện ma túy” chưa có văn bản nào hướng dẫn,  giải thích cụ thể, gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng. Các quy định tại Luật Phòng, chống ma túy 2021, Nghị định 116/2021/NĐ-CPThông tư 12/2023/TT-BLĐTBXH chỉ đề cập thủ tục, hồ sơ, kế hoạch và hợp đồng cai nghiện, chứ không xác định rõ tiêu chí pháp lý của tình trạng này.

Thực tế cho thấy, nhiều trường hợp người sử dụng ma túy có Quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện của Chủ tịch UBND xã (cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng), nhưng chưa được lập kế hoạch cai nghiện, chưa ký hợp đồng dịch vụ với cơ sở cai nghiện, chưa được tổ chức, cá nhân có chức năng hướng dẫn, giám sát. Do thiếu căn cứ pháp lý rõ ràng, dẫn đến có các quan điểm khác nhau: Một số ý kiến cho rằng chỉ cần có Quyết định cai nghiện tự nguyện đang có hiệu lực là đủ để xác định “đang trong thời hạn cai nghiện”, từ đó khởi tố hình sự khi người đó tiếp tục sử dụng ma túy; Một số quan điểm lại cho rằng chỉ khi người đó đã thực sự tham gia quá trình cai nghiện hợp pháp (có kế hoạch, giám sát, hồ sơ dịch vụ hợp lệ) mới thỏa mãn dấu hiệu “đang trong thời hạn cai nghiện”, nếu không, chỉ có thể xử phạt hành chính theo Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP.

Mặt khác theo quy định tại Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021, Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định đối với các trường hợp vi phạm pháp luật về điều trị, cai nghiện ma túy tự nguyện thì sẽ là căn cứ lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với các trường hợp sau: Người nghiện ma túy không đăng ký cai nghiện tự nguyện; Người đã có quyết định cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng mà không thực hiện cai nghiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy; Người sử dụng trái phép chất ma túy trong thời gian cai nghiện tự nguyện; Người nghiện ma túy không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt điều trị khi đăng ký điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Như vậy đối với những người đang được cai nghiện tư nguyện tại gia đình, cộng đồng cần phải tuân thủ quy định về cai nghiện nếu không có thể bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong khi đó điểm a, khoản 1, Điều 256a BLHS quy định người nào sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp: Đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy 2021” thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Việc chưa có quy định xác định rõ “đang trong thời hạn cai nghiện ma túy” là một khoảng trống pháp lý đáng chú ý trong quá trình áp dụng  Điều 256a BLHS. Vấn đề này không chỉ gây lúng túng cho cơ quan tố tụng mà còn tiềm ẩn nguy cơ xâm phạm quyền con người và nguyên tắc suy đoán vô tội. Do đó, việc sớm ban hành hướng dẫn thống nhất là yêu cầu cấp thiết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, thống nhất và nhân đạo trong xử lý người sử dụng trái phép chất ma túy.

Để bảo đảm hiệu quả trong việc áp dụng pháp luật và nhân văn trong việc áp dụng Điều 256a BLHS, đề xuất: Liên ngành tư pháp trung ương ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về xác định hành vi, lỗi, và các tình tiết định tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”; Tăng cường phối hợp liên ngành giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và cơ sở y tế; Kết hợp chế tài hình sự và biện pháp cai nghiện bắt buộc có giám sát tư pháp, hướng đến phục hồi hơn là trừng phạt; Tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong học đường và cộng đồng để phòng ngừa từ gốc.

Việc bổ sung Điều 256a trong BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025)  là bước tiến mạnh mẽ trong chính sách phòng, chống ma túy, nhưng việc áp dụng còn gặp nhiều vướng mắc trong thực tiễn, nên thiết nghĩ liên ngành tư pháp trung ương cần sớm ban hành thông tư liên tịch hướng dẫn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về các tội phạm ma túy trong đó hướng dẫn cụ thể áp dụng Điều 256a BLHS để các cơ quan tiến hành tố tụng thống nhất xử lý trong thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử các tội phạm về ma túy./.

 

 Hương Ly - Phòng 1

Viện KSND tỉnh Nghệ An

 

THÔNG BÁO
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1