Trao đổi nghiệp vụ về việc áp dụng tình tiết “phạm tội đối với người già yếu” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự
Trong
thời gian vừa qua, trên địa bàn thuộc thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm
sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6, xảy ra một số vụ việc
cố ý gây thương tích đối với bị hại là người từ đủ 70 tuổi trở lên. Theo quy định
tại điểm c khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự, phạm tội “đối với người già yếu”
là tình tiết định tội của tội phạm này. Tuy nhiên, hiện nay không có văn bản
pháp luật nào quy định như thế nào là phạm tội “đối với người già yếu” là tình
tiết định tội quy định Bộ luật hình sự nói chung và quy định tại điểm c khoản 1
Điều 134 Bộ luật hình sự nói riêng dẫn đến việc có nhiều quan điểm khác nhau
trong quá trình áp dụng.
Ví
dụ như vụ việc: Anh Đ
và bà T, sinh ngày 3/01/1948 (79 tuổi 6 tháng) xảy ra mâu
thuẫn, xích mích với nhau liên quan đến việc tranh chấp đất đai. Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 03/01/2026, anh Đ và bà anh T cãi
nhau. Quá trình tranh cãi, anh Đ lôi bà T
về cổng nhà của bà T rồi đẩy bà T làm đầu của bà T bị chấn vào mép cạnh cửa cổng rồi ngã xuống sân. Hậu quả, bà T bị thương tích 4%.
Qua xác minh tại gia đình và địa phương thì trước
khi xảy ra sự việc bà T không có tiền sử bệnh tật gì, không phải điều trị tại bệnh
viện, sức khỏe bình thường và đang tự chăm sóc bản thân hằng ngày.
Hiện tại, có hai quan điểm về việc áp dụng tình tiết phạm tội “đối với người
già yếu” vụ việc nêu trên, cụ thể:
- Quan điểm thứ nhất: Hành vi của anh Đ đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại
điểm c khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự, vì:
Căn cứ quy định tại khoản
4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 04/2021/TTLT-TANDTC- VKSNDTC- BCA- BQP ngày
11/10/2021 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao- Bộ
Công an- Bộ Quốc phòng quy định phối hợp trong thực hiện trình tự, thủ tục giảm thời hạn, miễn
chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ và miễn chấp hành thời hạn cấm cư
trú, quản chế còn lại, quy định: “Người đã quá già yếu là người từ 70
tuổi trở lên hoặc người từ 60 tuổi trở lên nhưng thường xuyên ốm đau” và Căn cứ khoản 9 Điều 2 Nghị quyết số
03/2024/NQ-HĐTP ngày 10/6/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng
dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự về thời hiệu thi hành bản án,
miễn chấp hành hình phạt, giảm mức hình phạt đã tuyên, giảm thời hạn chấp hành
hình phạt trong trường hợp đặc biệt, hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉ
chấp hành hình phạt tù, quy định: “Đã quá già yếu” quy định tại Điều
64 của Bộ luật Hình sự là người bị kết án thuộc một trong các trường hợp
sau:
a) Từ đủ 70 tuổi trở lên;
b) Từ đủ 60 tuổi trở lên
nhưng thường xuyên ốm đau, phải nằm điều trị tại bệnh viện liên tục từ 03 tháng
trở lên hoặc không liên tục nhưng phải nằm điều trị tại bệnh viện từ 03 lần trở
lên (mỗi lần từ 01 tháng trở lên), không có khả năng tự phục vụ bản thân, có kết
luận bằng văn bản của Hội đồng giám định y khoa cấp tỉnh, cấp quân khu trở lên
hoặc bệnh viện.
Do vậy, theo quy định nêu
trên thì tại thời điểm xảy ra vụ việc bà T là người đủ 70 tuổi trở lên thuộc
trường hợp là “người già yếu” nên hành vi của Đ đã cấu thành tội phạm “Cố ý gây
thương tích” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự với tình tiết
định khung “phạm tội đối với người già
yếu”.
- Quan điểm thứ hai: Hành
vi của anh Đ không cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, vì:
Mặc dù Thông tư liên tịch
số 04/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 11/10/2021 của Tòa án nhân dân tối
cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Nghị quyết 03/2024 ngày 10/06/2024 của
Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao có quy định “người đã quá già yếu” nhưng đối tượng
áp dụng của hai văn bản pháp luật này là người đang phải chấp hành án.
Theo giải đáp về những khó khăn, vướng mắc trong công tác THQTC và KSXX
Hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tối cao năm 2020, có giải
đáp như sau: Nghiên cứu các quy định liên quan của Bộ luật hình sự năm 2015 và
tham khảo nội dung hướng dẫn của Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/05/2006
và Nghị quyết số 01/2007/NĐ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao về thi hành Bộ luật hình sự năm 1999, thì “Người già yếu” có thể hiểu là người từ đủ 70 tuổi trở lên và có sức khỏe
loại yếu (Thường xuyên đau ốm).
Mặt khác, tại điểm i khoản
1 Điều 52 Bộ luật hình sự hiện nay quy định
“Phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở
lên” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và tại điểm o khoản 1 Điều
51 Bộ luật hình sự quy định“Người phạm tội
là người đủ 70 tuổi trở lên” là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong khi tại điểm c khoản 1 Điều 134 Bộ
luật hình sự vẫn quy định tình tiết là “người già yếu” nên không thể đồng nhất
hai khái niệm “người đủ 70 tuổi trở lên” và “người già yếu” là như nhau.
Do vậy, mặc dù tại thời
điểm xảy ra vụ việc, bà T đã đủ 70 tuổi trở lên nhưng không thuộc trường hợp là
“người già yếu”.
Quan điểm của tác giả: Đồng
tình với quan điểm thứ hai bởi lẽ không thể đồng nhất hai khái niệm “người từ đủ
70 tuổi trở lên” với “người già yếu” theo quy định của Bộ luật hình sự hiện
hành. Trong khi “người từ đủ 70 tuổi” chỉ phản ánh về tuổi tác, còn “người già
yếu” cần phải đáp ứng thêm điều kiện về tuổi tác và có sức khỏe loại yếu (thường
xuyên đau ốm).
Thực tiễn đang có nhiều cách hiểu khác nhau về việc áp dụng tình tiết “phạm
tội đối với người già yếu” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự
nêu trên, rất mong nhận được ý kiến trao đổi của đồng nghiệp đối với việc áp dụng
tình tiết này.
|
|
Vũ Thị Ngân- Phó Viện trưởng
Phan Thị Thắm- Kiểm sát viên
VKSND khu vực 6
|