Thực tiễn triển khai chuyển đổi số trong công tác chuyên môn tại Phòng 1 – Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An
1. Một số vấn đề đặt ra từ yêu cầu chuyển đổi số trong Ngành
Kiểm sát
Chuyển đổi số hiện nay là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước,
được xác định là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới phương thức lãnh đạo, quản
lý và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Nghị quyết số
52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động
tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã nhấn mạnh yêu cầu “đổi mới
căn bản, toàn diện hoạt động quản lý, điều hành của các cơ quan nhà nước trên
cơ sở ứng dụng mạnh mẽ khoa học, công nghệ và chuyển đổi số”.
Đối với Ngành Kiểm sát nhân dân, yêu cầu này tiếp tục được cụ
thể hóa trong Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung
ương về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam trong giai đoạn mới, trong đó xác định nhiệm vụ đẩy mạnh cải cách tư pháp,
hiện đại hóa hoạt động của các cơ quan tư pháp, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước
và phục vụ Nhân dân.
Quán triệt các chủ trương trên, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao đã ban hành nhiều kế hoạch, chỉ đạo quan trọng, trong đó có Kế hoạch số
251/KH-VKSTC ngày 12/12/2025 về phát động phong trào thi đua thực hiện thắng lợi
nhiệm vụ triển khai nền tảng Quản lý án hình sự gắn với phong trào “Bình dân học
vụ số”. Trên cơ sở đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đã ban hành Kế hoạch
số 3376/KH-VKS ngày 25/12/2025 để tổ chức triển khai thống nhất trong VKSND hai
cấp tỉnh Nghệ An.
Từ yêu cầu chung đó, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông
tin, chuyển đổi số trong công tác chuyên môn tại Phòng 1 – VKSND tỉnh Nghệ An
không chỉ là nhiệm vụ trước mắt mà còn là yêu cầu mang tính lâu dài, gắn chặt với
nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.
2. Thực tiễn triển khai chuyển đổi số trong công tác chuyên
môn tại Phòng 1
Thời gian qua, Phòng 1 đã từng bước triển khai nhiều nội dung
ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác chuyên môn nghiệp vụ. Đơn vị đã sử
dụng nền tảng Quản lý án hình sự, hệ thống quản lý văn bản và điều hành của
Ngành để theo dõi, quản lý, cập nhật tiến độ giải quyết án; thực hiện việc nhận,
gửi văn bản điện tử, ký số theo quy định, góp phần giảm dần việc xử lý văn bản
giấy; đồng thời bước đầu thực hiện số hóa tài liệu hồ sơ vụ án phục vụ công tác
nghiên cứu, báo cáo và đề xuất quan điểm giải quyết vụ án.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin đã hỗ trợ tích cực cho Kiểm
sát viên trong quá trình nghiên cứu hồ sơ, xây dựng báo cáo đề xuất, nâng cao
tính kịp thời, chính xác trong công tác tham mưu, đáp ứng yêu cầu cải cách hành
chính và hiện đại hóa hoạt động của Ngành.
Cán
bộ, Kiểm sát viên Phòng 1 thao tác trên nền tảng Quản lý án hình sự
Về nhận thức, đa số cán bộ, Kiểm sát viên trong đơn vị đã xác
định rõ vai trò, ý nghĩa của chuyển đổi số; bước đầu hình thành thói quen sử dụng
các phần mềm nghiệp vụ, nền tảng số trong xử lý công việc chuyên môn hằng ngày.
3. Một số tồn tại, hạn chế từ thực tiễn
Bên cạnh những kết quả đạt được, qua trao đổi, nghiên cứu thực
tiễn cho thấy việc triển khai chuyển đổi số tại Phòng 1 vẫn còn một số vấn đề cần
tiếp tục quan tâm.
Một là, mức độ ứng dụng công nghệ thông tin giữa các cán bộ,
Kiểm sát viên chưa đồng đều; việc khai thác các tính năng nâng cao của phần mềm
nghiệp vụ còn hạn chế, chủ yếu mới tập trung vào các thao tác cơ bản.
Hai là, ở một bộ phận cán bộ, Kiểm sát viên vẫn còn tâm lý
quen với phương thức làm việc truyền thống, e ngại thay đổi, chưa thật sự chủ động
ứng dụng công nghệ vào xử lý công việc chuyên môn hằng ngày.
Ba là, việc tự học, tự bồi dưỡng kỹ năng số chưa trở thành
thói quen thường xuyên; nội dung này chưa được gắn chặt với đánh giá kết quả thực
hiện nhiệm vụ chuyên môn và công tác thi đua, khen thưởng.
Bốn là, hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị công nghệ thông tin
chưa thật sự đồng bộ, phần nào ảnh hưởng đến hiệu quả triển khai các nhiệm vụ
chuyển đổi số theo yêu cầu chung của Ngành.
4. Một số trao đổi, đề xuất từ thực tiễn đơn vị
Từ thực tiễn triển khai tại Phòng 1 – VKSND tỉnh Nghệ An, để
chuyển đổi số đi vào thực chất, hiệu quả, chúng tôi xin trao đổi một số nội
dung sau:
Thứ nhất, tiếp tục đổi mới nhận thức, tư duy về chuyển đổi số.
Cần xác định chuyển đổi số không chỉ là việc sử dụng phần mềm hay công cụ công
nghệ, mà là quá trình đổi mới phương thức làm việc, tư duy nghiệp vụ. Việc ứng
dụng công nghệ thông tin phải gắn chặt với từng khâu công tác thực hành quyền
công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử. Đồng thời, cần đưa tiêu chí ứng dụng
công nghệ thông tin, kỹ năng số vào đánh giá thi đua, xếp loại cán bộ, Kiểm sát
viên; trong đó, lãnh đạo đơn vị phải thực sự tiên phong, gương mẫu.
Thứ hai, chú trọng nâng cao kỹ năng công nghệ thông tin cho đội
ngũ cán bộ, Kiểm sát viên. Việc đào tạo, bồi dưỡng cần được tổ chức theo hướng
thiết thực, gắn với nghiệp vụ cụ thể của Phòng 1; phát huy vai trò của cán bộ
trẻ, cán bộ có năng lực công nghệ thông tin làm lực lượng nòng cốt hỗ trợ, hướng
dẫn trong đơn vị, đúng với tinh thần phong trào “Bình dân học vụ số”.
Thứ ba, tăng cường đầu tư hạ tầng kỹ thuật và bảo đảm an toàn
thông tin. Đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh tiếp tục quan tâm đầu tư trang
thiết bị, hạ tầng công nghệ thông tin, đáp ứng yêu cầu triển khai các nền tảng
số của Ngành; đồng thời thực hiện nghiêm các quy định về bảo mật dữ liệu, bảo đảm
an toàn thông tin trong quá trình xử lý hồ sơ, tài liệu điện tử.
5. Kết luận
Chuyển đổi số trong công tác chuyên môn tại Phòng 1 – Viện kiểm
sát nhân dân tỉnh Nghệ An là nhiệm vụ quan trọng, mang tính lâu dài, gắn trực
tiếp với yêu cầu nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động
tư pháp theo tinh thần các nghị quyết của Đảng và chỉ đạo của Ngành Kiểm sát
nhân dân. Thông qua việc trao đổi, nghiên cứu từ thực tiễn, Phòng 1 tiếp tục khẳng
định quyết tâm đổi mới tư duy, nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ, Kiểm
sát viên, từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn chuyển đổi số hiện
nay.
|
|
Hương Ly
Phòng 1 – Viện KSND tỉnh
|