Tăng cường phòng ngừa vi phạm pháp luật đất đai từ thực tiễn kiểm sát giải quyết tranh chấp dân sự của Viện KSND khu vực 2 - Nghệ An
Thực
tiễn giải quyết các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình có liên quan đến
quyền sử dụng đất, thừa kế, chia tài sản chung cho thấy: nhiều vụ việc không
bắt nguồn từ mâu thuẫn đơn thuần giữa các bên, mà xuất phát từ những sai sót
ngay ở khâu quản lý nhà nước về đất đai tại cơ sở, đặc biệt là việc xác nhận hồ sơ,
thẩm định điều kiện pháp lý, tính thống nhất của dữ liệu địa chính và trình tự,
thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi các “điểm nghẽn” này không
được kiểm soát chặt, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có thể trở thành yếu tố
làm tranh chấp phức tạp hơn, kéo dài thời gian giải quyết, gia tăng nguy cơ hủy
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phát sinh khiếu kiện và ảnh hưởng trực
tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân.
Thông
qua công tác kiểm sát việc thụ lý, giải quyết vụ án tranh chấp thừa kế giữa
nguyên đơn bà Nguyễn Thị H với bị đơn ông Nguyễn Bá H theo Thông báo thụ lý số
74 ngày 23/10/2023 và vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa nguyên đơn ông Phan Văn Q với bị đơn ông Trương Văn C và bà Nguyễn Thị M
thụ lý số 01 ngày 04/11/2021, Viện KSND khu vực 2 - Nghệ An đã phát hiện những vi phạm
điển hình trong công tác quản lý, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên
địa bàn tỉnh Nghệ An, qua đó nhận diện rõ nguyên nhân phát sinh tranh chấp và
đề xuất giải pháp phòng ngừa có trọng tâm, trọng điểm.
Bộ phận dân sự VKSND khu vực 2 họp, thảo luận về vụ việc
Trước
hết, tại địa bàn xã Trung Lộc (được sắp xếp từ các xã Nghi Long, Nghi Quang,
Nghi Thuận, Nghi Xá), thực tiễn kiểm sát cho thấy có trường hợp cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất khi chưa bảo đảm đầy đủ điều kiện pháp lý về thừa kế,
không phù hợp quy định tại Điều 100 Luật Đất đai và chưa đáp ứng yêu cầu bắt
buộc về hình thức thỏa thuận của những người thừa kế theo Bộ luật Dân sự. Cụ
thể, thửa đất là tài sản chung vợ chồng; phần quyền sử dụng đất của người đã
chết là di sản thừa kế nhưng chưa được các đồng thừa kế lập văn bản thỏa thuận
phân chia theo quy định, trong khi cơ quan có thẩm quyền vẫn hoàn tất việc cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên một người. Sai sót này phản ánh sự
thiếu chặt chẽ trong khâu kiểm tra, thẩm định hồ sơ của cơ quan chuyên môn cấp
huyện và việc xác nhận nguồn gốc, tình trạng pháp lý thửa đất của UBND cấp xã,
dẫn đến hệ quả tất yếu là khi đồng thừa kế phát sinh tranh chấp, Tòa án phải
xem xét tính hợp pháp của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp, làm gia
tăng nguy cơ bị hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và kéo theo những
hệ lụy pháp lý bất lợi cho nhiều chủ thể liên quan.
Bên
cạnh đó, tại xã Văn Kiều (được thành lập trên cơ sở sắp xếp các xã Nghi Văn,
Nghi Kiều), qua kiểm sát hồ sơ một vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất cho thấy
việc cấp Giấy chứng nhận đối với đất đấu giá không bảo đảm căn cứ địa chính và
sự thống nhất giữa hồ sơ với thực địa, có mâu thuẫn về số thửa, bản đồ địa
chính chưa được chỉnh lý phản ánh đúng mặt bằng đấu giá và hiện trạng sử dụng
đất nhưng vẫn hoàn tất thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không bảo đảm quy
trình theo Điều 70 Nghị định 43/2014/NĐ-CP; đồng thời bộc lộ hạn chế trong việc
đối chiếu giữa bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính và thực địa, cũng như việc
công khai danh sách theo trình tự luật định chưa được thực hiện hoặc thực hiện
chưa đầy đủ. Khi phát sinh tranh chấp, các thiếu sót này trở thành nguyên nhân
trực tiếp khiến việc xác minh, đối chất, định vị thửa đất và đánh giá chứng cứ
gặp khó khăn, làm suy giảm độ tin cậy pháp lý của Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất và xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân.
Từ
hai vụ việc điển hình có thể khẳng định, vi phạm trong quản lý đất đai chủ yếu
phát sinh từ khâu cơ sở, tập trung ở việc xác nhận hồ sơ chưa chặt chẽ, thẩm định điều kiện pháp lý về
thừa kế và nguồn gốc đất chưa đầy đủ, dữ liệu địa chính thiếu thống nhất hoặc
chậm chỉnh lý, cùng với việc thực hiện trình tự thủ tục và công khai chưa
nghiêm. Trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính, thay đổi địa giới, chuyển
tiếp hồ sơ và trách nhiệm quản lý, nếu không có cơ chế kiểm soát hiệu quả thì
rủi ro phát sinh tranh chấp sẽ gia tăng, đồng thời làm tăng gánh nặng cho cơ
quan tiến hành tố tụng trong việc thu thập chứng cứ, đánh giá hiện trạng, giải
quyết quyền lợi của các bên và xử lý hệ quả pháp lý của những quyết định hành
chính đã ban hành.
Trên
cơ sở nhận diện nguyên nhân, để tăng cường phòng ngừa vi phạm và nâng cao chất
lượng công tác kiểm sát giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình nói
chung, công tác kiến nghị phòng ngừa nói riêng cần được triển khai theo hướng
chủ động, thực chất và bám sát “điểm phát sinh tranh chấp” ngay từ đầu vào hồ
sơ. Trước hết, trong hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân
và gia đình có liên quan đến đất đai, Viện kiểm sát cần tăng cường kiểm sát
ngay từ giai đoạn thụ lý và chuẩn bị xét xử, tập trung vào việc xác định đúng
quan hệ pháp luật tranh chấp, đúng tư cách đương sự và người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan, đặc biệt là đồng thừa kế, người đang quản lý sử dụng đất,
người có quyền đối với tài sản gắn liền với đất; yêu cầu Tòa án thu thập đầy đủ
hồ sơ địa chính, tài liệu biến động đất đai, hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất qua các thời kỳ, hồ sơ đấu giá, trích đo, trích lục bản đồ, biên bản
thẩm định tại chỗ, định giá, đo đạc; kiểm sát chặt việc đánh giá chứng cứ và
lập luận trong bản án nhằm hạn chế tình trạng “đúng về kết quả nhưng chưa vững
về căn cứ”, dẫn đến nguy cơ sửa, hủy án hoặc phát sinh khiếu kiện kéo dài. Đồng
thời, cần chuẩn hóa công cụ nghiệp vụ theo nhóm tranh chấp bằng các checklist
kiểm sát để nhận diện sớm các lỗi thường gặp như thiếu văn bản thỏa thuận phân
chia di sản, thiếu căn cứ chứng minh tài sản chung - riêng, mâu thuẫn số thửa, tờ bản đồ, sai lệch thực địa, thiếu
công khai theo trình tự, hoặc thiếu phối hợp chỉnh lý địa chính; từ đó giúp
Kiểm sát viên chủ động yêu cầu khắc phục, ban hành kiến nghị hoặc kháng nghị
kịp thời theo thẩm quyền.
Cùng
với việc nâng cao chất lượng kiểm sát trong tố tụng, trọng tâm phòng ngừa vi
phạm pháp luật đất đai phải được thực hiện thông qua kiến nghị phòng ngừa, bảo
đảm rõ nội dung, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn và có cơ chế theo dõi kết quả thực
hiện. Theo đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Nghệ An đã ban hành các kiến nghị
yêu cầu UBND cấp xã tập trung rà soát toàn bộ hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, nâng cao chất lượng xác nhận hồ sơ ở cơ sở, đặc biệt là việc xác
nhận nguồn gốc đất, tình trạng tranh chấp, tình trạng thừa kế, sự đồng thuận
của đồng thừa kế và yếu tố tài sản chung vợ chồng; tăng cường phối hợp với cơ
quan chuyên môn và Văn phòng đăng ký đất đai trong việc đối chiếu, chỉnh lý bản đồ, cập nhật hồ sơ địa
chính bảo đảm thống nhất giữa hồ sơ và thực địa trước khi tham mưu cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất; thực hiện nghiêm quy trình công khai,
niêm yết, bảo đảm người dân được tiếp cận thông tin và phản hồi kịp thời; tổ
chức tuyên truyền, tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ cơ sở về điều kiện pháp lý khi
cấp Giấy chứng nhận có yếu tố thừa kế, về chuẩn hóa hồ sơ địa chính và kỹ năng
nhận diện rủi ro tranh chấp trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính. Quan
trọng hơn, việc kiến nghị cần gắn với cơ chế kiểm tra, đôn đốc, yêu cầu báo cáo
kết quả khắc phục; trường hợp tiếp thu hình thức hoặc chậm khắc phục phải kịp
thời kiến nghị cơ quan có thẩm quyền chỉ đạo chấn chỉnh, qua đó bảo đảm kiến
nghị phòng ngừa thực sự tạo chuyển biến trong quản lý đất đai tại cơ sở.
Có
thể khẳng định, kiến nghị phòng ngừa của Viện kiểm sát xuất phát từ thực tiễn
kiểm sát giải quyết tranh chấp dân sự không chỉ nhằm “xử lý hệ quả” trong từng
vụ án, mà quan trọng hơn là “ngăn ngừa nguyên nhân” làm phát sinh tranh chấp
ngay từ khâu quản lý nhà nước. Khi chất lượng xác nhận hồ sơ được nâng lên, dữ
liệu địa chính được chỉnh lý đồng bộ, điều kiện pháp lý được thẩm định đầy đủ
và trình tự thủ tục được tuân thủ nghiêm, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ
thực sự trở thành nền tảng bảo đảm an toàn pháp lý cho giao dịch dân sự, giảm
thiểu rủi ro tranh chấp, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,
cá nhân, đồng thời nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành và chất lượng giải
quyết vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình trong
tình hình mới.
Từ
yêu cầu thực tiễn và định hướng cải cách tư pháp, việc tiếp tục nâng cao chất
lượng công tác kiểm sát giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình gắn
với đẩy mạnh kiến nghị phòng ngừa vi phạm pháp luật đất đai theo phương châm
chủ động, kịp thời, thực chất, có kiểm tra kết quả sẽ là giải pháp quan trọng
để hạn chế tranh chấp, giữ vững kỷ cương pháp luật và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với hoạt động tư pháp
trên địa bàn.
|
|
Nguyễn Thị Lan Anh
Viện KSND khu vực 2 - Nghệ An
|