Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 - Những điểm mới quan trọng và ý nghĩa thực tiễn
Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 được Quốc hội khóa XV thông qua tại
Kỳ họp thứ 10 với 88 điều, 8 chương, có hiệu lực từ ngày 01/3/2026. So với Luật Phá sản năm 2014,
Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 có nhiều điểm mới quan trọng, thể hiện sự thay
đổi trong tư duy lập pháp và cách tiếp cận trong việc giải quyết các vấn đề
liên quan đến phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.
Trên cơ sở so sánh với
Luật Phá sản năm 2014, có thể khái quát một số điểm mới quan trọng của Luật
Phục hồi, phá sản năm 2025 như sau:
Một là, sửa đổi tên gọi của
Luật
Đổi tên “Luật Phá sản”
thành “Luật Phục hồi, phá sản”. Việc sửa đổi tên gọi từ “Luật Phá
sản” thành “Luật Phục hồi, phá sản” có ý nghĩa quan trọng trong việc
thể hiện rõ phạm vi điều chỉnh và tư duy lập pháp mới của Luật, theo đó phục
hồi doanh nghiệp, hợp tác xã được xác định là một thủ tục độc lập, được ưu tiên
xem xét song song với thủ tục phá sản. Sự thay đổi này khẳng định định hướng xây
dựng Luật là lấy phục hồi làm trọng tâm, khuyến khích, ưu tiên
phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã ngay từ khi có nguy
cơ mất khả năng thanh toán để giúp doanh nghiệp, hợp tác xã có cơ hội hồi sinh
và tiếp tục đóng góp cho nền kinh tế; hạn chế việc áp dụng thủ tục phá sản
trong những trường hợp không thực sự cần thiết, đồng thời bảo đảm cách tiếp cận
toàn diện, phù hợp hơn với yêu cầu phát triển kinh tế và hội nhập.
Hai là, bổ sung chính sách của
Nhà nước trong phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
Luật Phục hồi, phá sản
năm 2025 bổ sung quy định về chính sách của Nhà nước trong phục hồi, phá sản
doanh nghiệp, hợp tác xã. Cụ thể tại Điều 4 Luật Phục hồi, phá sản
năm 2025 quy định: “Nhà nước có chính sách hỗ trợ về thuế, phí, tín dụng,
lãi suất, đất đai, công nghệ, chuyển đổi số và các biện pháp hỗ trợ khác cho
doanh nghiệp, hợp tác xã gặp khó khăn trong kinh doanh thực hiện thủ tục phục
hồi, phá sản”.
Việc bổ sung quy định về
chính sách của Nhà nước đối với doanh nghiệp, hợp tác xã trong quá trình phục
hồi, phá sản trong Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 có ý nghĩa quan trọng trong
việc thể chế hóa vai trò hỗ trợ của Nhà nước, tạo cơ sở pháp lý cho việc áp
dụng các biện pháp hỗ trợ kịp thời và phù hợp. Đồng thời, giúp doanh nghiệp,
hợp tác xã phục hồi hoạt động kinh doanh hoặc rút lui khỏi thị trường một cách
có trật tự, góp phần cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, lành mạnh hóa nền
kinh tế.
Ba là, bổ sung cơ chế Nhà nước
tạm ứng chi phí phá sản
Một trong những điểm mới
nổi bật của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 là quy định Nhà nước tạm ứng chi
phí phá sản trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã không còn khả năng chi
trả. Cơ chế này nhằm bảo đảm thủ tục phá sản vẫn được tiến hành, tránh tình
trạng hồ sơ bị đình trệ do thiếu kinh phí, đồng thời tăng tính khả thi trong
thực thi pháp luật.
Cụ thể tại khoản 3 Điều
20 Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 quy định: “Ngân sách nhà nước bảo đảm tạm
ứng chi phí đối với các trường hợp quy định tại điểm b khoản 1, khoản 3 và
khoản 4 Điều 38 và điểm c khoản 1 Điều 70 của Luật này”. Theo đó
là các trường hợp sau: người nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản là người
lao động, công đoàn, cơ quan quản lý thuế, cơ quan bảo hiểm xã hội; hoặc trong
trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã không còn tài sản hoặc còn tài sản nhưng
không thanh lý, thu hồi được hoặc còn tài sản nhưng không đủ để nộp lệ phí phá
sản, tạm ứng chi phí phá sản, thanh toán chi phí phá sản.
Đồng thời tại khoản 5
Điều 20 Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 quy định: Thẩm phán giao cho Quản tài
viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản bán một số tài sản của doanh
nghiệp, hợp tác xã để bảo đảm chi phí phục hồi, phá sản. Tiền tạm ứng chi phí
phá sản trong các trường hợp Ngân sách nhà nước bảo đảm tạm ứng chi phí được
hoàn trả ngay vào ngân sách nhà nước. Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã không
còn tiền, tài sản thì chi phí phá sản do ngân sách nhà nước bảo đảm.
Bốn là, bổ sung quy định về
thương lượng, hòa giải
Luật Phá sản năm 2014 không
có điều khoản riêng quy định đầy đủ, cụ thể về thương lượng, hòa giải trong quá
trình giải quyết thủ tục phá sản. Việc hòa giải, thương lượng nếu có, thường
chỉ được thực hiện theo nguyên tắc chung của tố tụng dân sự hoặc kinh nghiệm
thực tiễn. Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đã bổ sung điều khoản về khuyến
khích và tổ chức thương lượng, hòa giải trong quá trình giải quyết vụ việc phục
hồi, phá sản, quy định trách nhiệm cụ thể cho quản tài viên, doanh nghiệp quản
lý tài sản và Thẩm phán... Cụ thể tại Điều 22 Luật Phục hồi, phá sản năm 2025
quy định: “Khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã, chủ nợ, người tham gia thủ
tục phục hồi, phá sản khác thực hiện thương lượng, hòa giải trong quá trình
giải quyết vụ việc phục hồi, phá sản.
Quản tài viên, doanh
nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có trách nhiệm tiến hành hòa giải theo đề nghị
của doanh nghiệp, hợp tác xã, chủ nợ, người tham gia thủ tục phục hồi, phá sản
khác.
Thẩm phán có trách nhiệm
tiến hành hòa giải tranh chấp liên quan đến tài sản của doanh nghiệp, hợp tác
xã trong thủ tục phá sản theo đề nghị của người tham gia thủ tục phá sản.
Trường hợp các bên thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết tranh chấp thì
Thẩm phán lập biên bản hòa giải thành và ra quyết định công nhận sự thỏa thuận
của các bên”.
Đây chính là một điểm mới
đáng chú ý của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 nhằm hướng tới giảm tính đối
kháng, gắn kết các chủ thể tham gia; tăng hiệu quả giải quyết vụ việc; giảm
thời gian, chi phí cho các bên; phù hợp với xu hướng giải quyết tranh chấp thân
thiện hơn và bảo vệ quan hệ kinh tế. Đồng thời, quy định trên cũng nhằm tạo
điều kiện thuận lợi cho việc đạt được các thỏa thuận về phương án phục hồi hoặc
xác nhận nợ, giải quyết tranh chấp phát sinh trong thủ tục phá sản.
Năm là, bổ
sung quy định về giải quyết vụ việc phục hồi, phá sản trên môi trường điện tử
Khác với Luật Phá sản
2014 chủ yếu thực hiện theo phương thức truyền thống dựa trên hồ sơ giấy, tại Điều 17, Điều
23 Luật
Phục hồi, phá sản năm 2025 đã bổ sung quy định các thủ tục có thể thực hiện
trên môi trường điện tử trong quá trình giải quyết vụ việc phục hồi, phá sản
như: cấp, tống đạt, thông báo, gửi văn bản; nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục
phục hồi, phá sản; nộp lệ phí, tạm ứng chi phí, chi phí phục hồi, phá sản; cung
cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ; phiên họp giải quyết vụ việc phục hồi, phá
sản; hoạt động khác theo quy định của pháp luật; quy định đa dạng, linh hoạt
các phương thức cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng. Luật cũng quy định
việc đăng công khai các thông tin liên quan đến vụ việc phục hồi, phá sản trên
Cổng thông tin điện tử quốc gia về phục hồi, phá sản.
Việc bổ sung quy định
giải quyết vụ việc phục hồi, phá sản trên môi trường điện tử trong Luật Phục
hồi, phá sản năm 2025 có ý nghĩa quan trọng trong việc hiện đại hóa thủ tục tư
pháp, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và cải cách tư pháp. Quy định này giúp
rút ngắn thời gian giải quyết, giảm chi phí cho doanh nghiệp và các chủ thể
liên quan, đồng thời tăng cường tính công khai, minh bạch và nâng cao hiệu quả
phối hợp giữa các chủ thể trong quá trình giải quyết vụ việc. Qua đó, tạo điều
kiện thuận lợi cho doanh nghiệp sớm tiếp cận cơ chế phục hồi, bảo đảm tốt hơn
quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.
Sáu là, bổ sung thủ tục phục
hồi là thủ tục độc lập
Chương II Luật Phục hồi,
phá sản năm 2025 quy định thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh độc lập
với thủ tục phá sản, ưu tiên áp dụng phục hồi để tạo cơ hội và nâng cao hiệu
quả phục hồi doanh nghiệp, hợp tác xã, kịp thời hỗ trợ sản xuất kinh doanh,
thúc đẩy phát triển kinh tế. Theo đó, doanh nghiệp, hợp tác xã có nguy cơ mất
khả năng thanh toán hoặc đã mất khả năng thanh toán có quyền nộp đơn yêu cầu mở
thủ tục phục hồi kèm phương án phục hồi hoạt động kinh doanh; danh sách chủ nợ,
người mắc nợ và tài liệu, chứng cứ kèm theo để chứng minh yêu cầu của mình là
có căn cứ và hợp pháp để tòa án xem xét, quyết định. Đây là điểm đổi mới quan
trọng so với Luật Phá sản năm 2014, trong đó thủ tục phục hồi chỉ được xem là
một bước phát sinh trong quá trình giải quyết phá sản. Cách tiếp cận mới này
nhằm tạo cơ hội cho doanh nghiệp, hợp tác xã có nguy cơ mất khả năng thanh toán
được tái cơ cấu, khôi phục hoạt động sản xuất, kinh doanh, qua đó hạn chế tối
đa việc phải tuyên bố phá sản.
Cụ thể, tại Chương II Luật
phục hồi, phá sản năm 2025 đã quy định thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh
độc lập với thủ tục phá sản với một số nội dung cơ bản sau:
- Doanh nghiệp, hợp tác
xã có nguy cơ mất khả năng thanh toán (là doanh nghiệp, hợp tác xã không thanh
toán được khoản nợ sẽ đến hạn trong 06 tháng hoặc khoản nợ đã đến hạn nhưng
chưa quá 06 tháng) hoặc đã mất khả năng thanh toán (là doanh nghiệp, hợp tác xã
không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ sau thời hạn 06 tháng kể từ ngày
đến hạn thanh toán) có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phục hồi.
- Người nộp đơn yêu cầu
áp dụng thủ tục phục hồi phải nộp kèm theo phương án phục hồi hoạt động kinh
doanh; danh sách chủ nợ, người mắc nợ và tài liệu, chứng cứ kèm theo để chứng
minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp để Tòa án xem xét, quyết định.
-
Tiếp tục kế thừa thủ tục và những chính sách hỗ trợ phục hồi doanh nghiệp, hợp
tác xã đã được quy định tại khoản 1 Điều 52, Điều 61 Luật Phá sản năm 2014 và
các văn bản pháp luật hiện hành khác có liên quan, đồng thời bổ sung những
chính sách đặc thù khác thực sự phù hợp với chính sách quản lý doanh nghiệp,
hợp tác xã và điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay mà có tính đồng thuận cao để
khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã nộp đơn phục hồi; hỗ trợ doanh nghiệp,
hợp tác xã phục hồi như: khoanh tiền thuế nợ; tạm dừng việc thanh toán một số
khoản nợ; tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí, tử tuất và các biện pháp hỗ trợ khác…
Bảy là, bổ sung chủ thể nộp
đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản
Luật phục hồi, phá sản
năm 2025 đã bổ sung hai chủ thể nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản là cơ
quan quản lý thuế và cơ quan bảo hiểm. Cụ thể, tại Điều 38 quy định:
“Cơ quan quản lý thuế
phải nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã
theo quy định của Luật Quản lý thuế, Chính phủ quy định điều kiện nộp đơn yêu
cầu áp dụng thủ tục phá sản.
Cơ
quan bảo hiểm xã hội có quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản đối với
doanh nghiệp, hợp tác xã khi cơ quan bảo hiểm xã hội đã thông báo đôn đốc đối
với khoản chậm, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp, bảo
hiểm y tế nhưng không có phản hồi trong 03 năm liên tiếp gần nhất theo quy định
của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế”.
Việc Luật Phục hồi, phá
sản năm 2025 bổ sung cơ quan quản lý thuế và cơ quan bảo hiểm xã hội là chủ thể
nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản đã góp phần hoàn thiện cơ chế khởi
xướng thủ tục phá sản, khắc phục tình trạng doanh nghiệp mất khả năng thanh
toán kéo dài nhưng không được xử lý kịp thời. Quy định này giúp chấm dứt hoạt
động và “khai tử”, chấm dứt tồn tại pháp lý những doanh nghiệp, hợp tác xã nợ
thuế, nợ bảo hiểm kéo dài, không còn tồn tại, hoạt động trên thực tế nhưng
không thể rút khỏi thị trường do không có người nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục
phá sản; góp phần giảm áp lực quản lý, theo dõi của các cơ quan quản lý nhà
nước; đồng thời góp phần tăng cường bảo vệ lợi ích công và an sinh xã hội, bảo
đảm thu hồi các khoản thu ngân sách và quyền lợi của người lao động, nâng cao tính chủ động, hiệu quả quản lý nhà nước đối với
doanh nghiệp, hợp tác xã gặp khó khăn.
Tám là, sửa
đổi thẩm quyền kháng nghị của Viện kiểm sát
So với Luật
Phá sản năm 2014, Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đã sửa đổi một số nội dung
liên quan đến thẩm quyền “kiến nghị”, “kháng nghị” của Viện kiểm sát. Cụ thể, đối
với quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản, Viện kiểm sát không còn quyền
kháng nghị mà chỉ thực hiện quyền kiến nghị (khoản 1 Điều 41 Luật Phục hồi, phá
sản năm 2025). Đối với quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị trong trường
hợp quyết định đó xâm phạm nghiêm trọng đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà
nước. Trong khi đó, theo Luật Phá sản năm 2014, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp
có quyền kháng nghị quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản (khoản 1 Điều
44) và quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản (khoản 1 Điều 111),
không giới hạn kháng nghị trong trường hợp quyết định đó xâm phạm nghiêm trọng
đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước.
Chín là, bổ
sung quy định về thủ tục phục hồi, phá sản rút gọn
Tại các Điều
68, 69, 70, 71 Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đã bổ sung thủ tục phục hồi, phá
sản rút gọn đối với doanh nghiệp, hợp tác xã có ít chủ nợ, số nợ nhỏ hoặc quy
mô doanh nghiệp, hợp tác xã nhỏ, siêu nhỏ và các trường hợp khác theo quy định
của pháp luật; mở rộng phạm vi các trường hợp áp dụng thủ tục phá sản rút gọn
để rút ngắn thời gian, nâng cao hiệu quả giải quyết vụ việc; thời hạn thực hiện
các thủ tục bằng một nửa thời hạn trong thủ tục phục hồi, phá sản thông thường;
điều kiện thông qua Nghị quyết Hội nghị chủ nợ; quy định việc chuyển đổi thủ
tục phục hồi rút gọn sang giải quyết theo thủ tục thông thường khi vụ việc
không còn đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn.
Việc bổ
sung quy định về thủ tục phục hồi, phá sản rút gọn trong Luật Phục hồi, phá sản
năm 2025 có ý nghĩa quan trọng trong việc đơn giản hóa và tăng tính linh hoạt
của thủ tục giải quyết, cho phép xử lý nhanh các trường hợp doanh nghiệp, hợp
tác xã có tình trạng pháp lý, tài chính rõ ràng. Quy định này giúp rút ngắn
thời gian, giảm chi phí, hạn chế kéo dài thủ tục làm giảm giá trị tài sản của
doanh nghiệp, hợp tác xã, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tư pháp
và bảo đảm tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.
Mười là, bổ
sung một số cơ chế xử lý tài sản
Luật
Phục hồi, phá sản năm 2025 đã bổ sung một số quy định mới về xử lý tài sản nhằm nâng cao hiệu quả khai thác và bảo toàn giá trị
tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã, hạn chế thất thoát, lãng phí trong quá
trình giải quyết phá sản. Cụ thể, Luật phục hồi phá sản năm 2025 đã bổ sung một số cơ chế xử lý tài sản sau:
- Bổ
sung quy định cho phép chuyển nhượng đồng bộ tài sản, chuyển nhượng một phần
hoặc toàn bộ mảng kinh doanh, hoạt động kinh doanh; chuyển nhượng một phần hoặc
toàn bộ doanh nghiệp, hợp tác xã để tối
ưu hóa giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã và bảo đảm duy trì việc làm
cho người lao động trước khi có quyết định tuyên bố phá sản (các Điều 30, 33,
42, 61).
- Bổ
sung biện pháp khẩn cấp tạm thời “cho bán hàng hóa, tài sản nếu chi phí bảo
quản, lưu giữ, trông giữ lớn hơn giá trị của hàng hóa, tài sản đó” (điểm b
khoản 1 Điều 58).
- Quy
định Quản tài viên chịu trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định tuyên bố phá
sản. Trường hợp xét thấy cần thiết phải thực hiện các biện pháp cưỡng chế thì
Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đề nghị cơ quan thi hành
án dân sự thực hiện các biện pháp cưỡng chế để thu hồi, giao tài sản theo quy
định của pháp luật về thi hành án dân sự (khoản 4 Điều 76).
- Bổ
sung quy định trường hợp tài sản không bán được, không có giá trị thì Quản tài
viên đề xuất Thẩm phán xác định tài sản đó không còn là tài sản của doanh
nghiệp, hợp tác xã phá sản (khoản 6 Điều 77).
Việc bổ
sung các quy định mới về xử lý tài sản trong Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 có
ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả khai thác, bảo toàn và tối ưu
hóa giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã, hạn chế thất thoát, lãng phí
trong quá trình giải quyết phá sản. Qua đó, góp phần bảo đảm tốt hơn quyền, lợi
ích hợp pháp của các bên liên quan và nâng cao hiệu quả, tính khả thi của thủ
tục phục hồi, phá sản trong thực tiễn.
Mười một là,
bổ sung, hoàn thiện quy định về giải quyết vụ việc phục hồi, phá sản có yếu tố
nước ngoài
Tại
Chương V Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đã bổ sung, hoàn thiện quy định về
giải quyết vụ việc phục hồi, phá sản có yếu tố nước ngoài, bao gồm: Yêu cầu tòa
án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hỗ trợ vụ việc phục hồi, phá sản; hỗ
trợ vụ việc phục hồi, phá sản nước ngoài; công nhận và cho thi hành bản án,
quyết định về phục hồi, phá sản của tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước
ngoài.
Việc bổ
sung và hoàn thiện quy định về giải quyết vụ việc phục hồi, phá sản có yếu tố
nước ngoài trong Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 có ý nghĩa quan trọng trong
việc hoàn thiện khung pháp lý phù hợp với bối cảnh hội nhập quốc tế. Quy định
này tạo cơ sở pháp lý cho sự phối hợp, hỗ trợ tư pháp giữa Việt Nam và các quốc
gia khác, nâng cao khả năng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên
quan, đồng thời bảo đảm việc giải quyết vụ việc phục hồi, phá sản có yếu tố
nước ngoài được thống nhất, minh bạch và hiệu quả hơn trong thực tiễn.
Mười hai là,
Về giải quyết tranh chấp trong thủ tục phá sản (Điều 60)
Việc giải quyết tranh
chấp trong thủ tục phá sản do Tòa án giải quyết vụ việc phá sản tiến hành với
thủ tục nhanh chóng, giảm chi phí. Việc giải quyết tranh chấp trong thủ tục phá
sản là một phần của thủ tục phá sản chứ không phải theo trình tự thủ tục tố
tụng dân sự thông thường vì doanh nghiệp, hợp tác xã đã trong tình trạng mất
khả năng thanh toán. Để khắc phục sai sót có thể xảy ra, quyết định giải quyết
tranh chấp có thể bị người tham gia thủ tục phá sản đề nghị xem xét lại, Viện
kiểm sát kiến nghị với Chánh án Tòa án đã ra quyết định.
Đối với những tranh chấp
mới phát sinh trong quá trình áp dụng thủ tục phục hồi doanh nghiệp, hợp tác
xã, thì việc giải quyết được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân
sự. Tuy nhiên, đối với những tranh chấp mới phát sinh trong quá trình thực hiện
phương án phục hồi hoạt động kinh doanh sau khi Tòa án đã thụ lý đơn yêu cầu áp
dụng thủ tục phá sản, thì do Tòa án đang giải quyết vụ việc phá sản đó giải
quyết.
Việc bổ sung quy định về
giải quyết tranh chấp trong thủ tục phá sản trong Luật Phục hồi, phá sản năm
2025 nhằm bảo đảm tính kịp thời, hiệu quả và tiết kiệm chi phí của quá trình
giải quyết phá sản; đồng thời khắc phục tình trạng phải tách tranh chấp ra giải
quyết theo thủ tục tố tụng dân sự thông thường, gây kéo dài thời gian và làm
giảm giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã, đồng thời bảo đảm sự thống
nhất, thông suốt của thủ tục phá sản và tăng cường hiệu quả bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của các bên liên quan.
Như vậy, Luật Phục hồi,
phá sản năm 2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy lập pháp về xử lý
doanh nghiệp, hợp tác xã gặp khó khăn, thể hiện rõ định hướng ưu tiên phục hồi
thay vì chỉ tập trung vào phá sản, đồng thời bảo đảm việc rút lui khỏi thị
trường được thực hiện một cách minh bạch, có trật tự và đúng pháp luật. Việc
đổi tên Luật, thiết kế thủ tục phục hồi độc lập, bổ sung thủ tục rút gọn, mở
rộng chủ thể nộp đơn, hoàn thiện cơ chế xử lý tài sản và ứng dụng mạnh mẽ công
nghệ thông tin đã khắc phục nhiều hạn chế, bất cập của Luật Phá sản năm 2014. Những
quy định mới của Luật không chỉ góp phần bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp
của chủ nợ, người lao động và các chủ thể liên quan, mà còn tạo hành lang pháp
lý thuận lợi cho doanh nghiệp, hợp tác xã có cơ hội tái cơ cấu, phục hồi hoạt
động sản xuất, kinh doanh; qua đó góp phần lành mạnh hóa môi trường đầu tư,
kinh doanh, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy phát triển kinh tế -
xã hội.
Để
Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 được triển khai hiệu quả trong thực tiễn, đòi
hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan quản lý
nhà nước, tổ chức có liên quan, đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền, tập
huấn, hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định mới của Luật. Trên cơ sở đó,
Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 sẽ thực sự trở thành công cụ pháp lý quan
trọng, góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ việc phục hồi, phá sản, bảo
đảm kỷ cương pháp luật và phục vụ mục tiêu phát triển bền vững của nền kinh tế.
Tổ tuyên truyền Phòng 10
Viện KSND tỉnh Nghệ An