image banner
Bàn về hành vi "tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng" theo quy định tại điều 304 bộ luật hình sự trong tình hình hiện nay

              1.     Đặt vấn đề

Ngày 29/6/2024, Quốc hội đã thông qua Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024 (Luật số 42/2024/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/01/2025). Đồng thời, Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 để hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (gọi tắt là Thông tư 75). Điều này đã tạo nên hành lang pháp lý quan trọng cho công tác quản lý và xử lý các hành vi vi phạm liên quan đến vũ khí nói chung và vũ khí quân dụng nói riêng. Đặc biệt là trong tình hình tội phạm liên quan đến hành vi tàng trữ, sử dụng hung khí có tính sát thương cao như dao nhọn, dao găm, mã tấu, kiếm, giáo mác... để thực hiện hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người ngày càng có nhiều diễn biến phức tạp, xảy ra ở nhiều địa phương và ở nhiều đối tượng có các độ tuổi khác nhau.

Tuy nhiên, đây là những quy định mới vì vậy trong thực tiễn áp dụng pháp luật đối với các hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc. Theo đó, việc định tội danh và xử lý các hành vi sử dụng các loại hung khí này đang đặt ra nhiều quan điểm khác nhau cho các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là trong việc áp dụng đồng thời các quy định tại Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và quy định tại các Điều luật về tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe khác được quy định trong Bộ luật hình sự.

Ví dụ như: Ngày 12/3/2025, Nguyễn Văn A đã có hành vi sử dụng dao chém vào tay của Nguyễn Văn B gây thương tích với tỷ lệ 04 %. Sau khi thụ lý nguồn tin tố giác về tội phạm, chiếc dao đã được giám định là dao sắc, nhọn có tính sát thương cao. Ở vụ án này có nhiều quan điểm khác nhau trong xác định tội danh và áp dụng tình tiết định khung hình phạt.

2. Một số vướng mắc trong thực tiễn

2.1. Vướng mắc trong việc xác định vũ khí, hung khí nguy hiểm

Theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025) quy định: “1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người…”.

Theo đó, khi một người dùng vũ khí, hung khí nguy hiểm để cố ý gây thương tích cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật dưới 11% cũng đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Nếu tỷ lệ thương tật trên 11% là phạm tội thuộc khoản 2 hoặc khoản 3 (tương ứng với tỉ lệ thương tật). Tuy nhiên, hiểu thế nào là vũ khí, như thế nào là hung khí nguy hiểm thì thực tiễn trong thời gian qua còn có nhiều nhận thức khác nhau về mặt pháp luật.

Tại tiểu mục 3.1 Mục 3 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 hướng dẫn: “Dùng hung khí nguy hiểm là trường hợp dùng vũ khí hoặc phương tiện nguy hiểm theo hướng dẫn tại các tiểu 2.1 và 2.2 mục 2 Phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”. Tại các tiểu mục 2.1 và 2.2 mục 2 của Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP nêu trên đã hướng dẫn: “2.1. Vũ khí là một trong các loại vũ khí được quy định tại khoản 1 Điều 1 Quy chế quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (ban hành kèm theo Nghị định số 47/CP ngày 12/8/1996 của Chính phủ). 2.2. Phương tiện nguy hiểm là công cụ, dụng cụ được chế tạo ra nhằm phục vụ cho cuộc sống của con người (trong sản xuất, trong sinh hoạt) hoặc vật mà người phạm tội chế tạo ra nhằm làm phương tiện thực hiện tội phạm hoặc vật có sẵn trong tự nhiên mà người phạm tội có được và nếu sử dụng công cụ, dụng cụ hoặc vật đó tấn công người khác thì sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng hoặc sức khỏe của người bị tấn công. a. Về công cụ, dụng cụ (ví dụ búa đinh, dao phay, các loại dao sắc, nhọn…);  b. Về vật mà người mà người phạm tội chế tạo ra (ví dụ thanh sắt mài nhọn, côn gỗ…); c. Về vật có sẵn trong tự nhiên (ví dụ gạch, đá, đoạn gậy cứng, chắc, thanh sắt…)”.

Vấn đề đang được đặt ra hiện nay là Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 đã hết hiệu lực, chưa có văn bản hướng dẫn khác thay thế. Do vậy, việc xác định thế nào là vũ khí (cụ thể là vũ khí quân dụng) thì được áp dụng theo quy định của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024 và Thông tư số 75 của Bộ Công an. Nhưng đối với hung khí nguy hiểm thì chưa được văn bản nào hướng dẫn. Do vậy, trong trường hợp một người dùng dao nhọn, kiếm… (đã được giám định là dao sắc, nhọn có tính sát thương cao) để cố ý gây thương tích cho sức khỏe của người khác thì có đồng thời áp dụng tình tiết định tội, định khung “Dùng vũ khí, hung khí nguy hiểm” hay không hay chỉ áp dụng một tình tiết “Dùng vũ khí”?

Quan điểm của tác giả: Trong trường hợp này, để đảm bảo nguyên tắc có lợi cho bị can, bị cáo và không xử lý “hai lần đối với một hành vi” thì một người dùng dao sắc nhọn, kiếm… (đã được giám định là dao sắc, nhọn có tính sát thương cao) để cố ý gây thương tích cho sức khỏe của người khác thì chỉ áp dụng tình tiết “Dùng vũ khí” để định tội hoặc định khung hình phạt đối với tội phạm tương ứng.

2.2. Vướng mắc trong việc xác định hành vi Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng

            Thứ nhất: Khó khăn trong việc xác định: việc một người tàng trữ dao sắc nhọn, kiếm… (đã được giám định là dao sắc nhọn, có tính sát thương cao) để nhằm mục đích cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác nhưng chưa có hành vi gây thương tích và chưa để lại hậu quả thì có được xác định đây là hành vi “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” không?

Căn cứ khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 03/2022/NQ-HĐTP thì hành vi Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự được hiểu là hành vi sau đây: “Cất giữ vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép. Nơi tàng trữ có thể là nơi ở, nơi làm việc, mang theo trong người, trong hành lý hoặc cất giấu bất kỳ ở một vị trí nào khác mà người phạm tội đã chọn; Không khai báo, giao nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi có được vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự từ bất kỳ nguồn nào (ví dụ: cho, tặng, gửi, mượn, cho mượn, thuê, cho thuê, cầm cố, thế chấp, đào được, nhặt được)”.

          Quan điểm của tác giả: Việc xác định mục đích một người tàng trữ dao, kiếm (đã được giám định là vũ khí quân dụng) để cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác được xác định dựa vào lời khai của đối tượng. Do đó, quá trình điều tra ban đầu, đối tượng khai nhận chỉ sử dụng dao, kiếm để phòng thân, tự vệ chứ không nhằm mục đích cố ý gây thương tích cho người khác thì sẽ gây khó khăn trong việc chứng minh tội phạm. Mặt khác, mục đích lúc này đang phụ thuộc vào ý thức chủ quan của đối tượng và có thể thay đổi lời khai.

Vì vậy, các cơ quan tố tụng có thể chứng minh được hành vi một người tàng trữ dao sắc nhọn, kiếm… (đã được giám định là dao sắc nhọn, có tính sát thương cao) để nhằm mục đích cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác nhưng chưa có hành vi gây thương tích và chưa để lại hậu quả được xem là hành vi “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” hay không thì ngoài việc có kết luận giám định về vũ khí quân dụng thì ngay từ ban đầu khi tiếp nhận nguồn tin tội phạm phải tiến hành lấy lời khai (được thực hiện ghi hình có âm thanh) và có sự tham gia của Kiểm sát viên nhằm đảm bảo về mặt thu thập tài liệu, chứng cứ được đảm bảo, đầy đủ, khách quan, tránh trường hợp đối tượng thay đổi lời khai trong quá trình điều tra.

Thứ hai: Vướng mắc trong việc: có hay không việc tách hành vi “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” và “Cố ý gây thương tích” trong một vụ án để xử lý riêng biệt hay thu hút về một tội danh.

Tại điểm a, c mục 1.2 của Công văn số 01/TANDTC-PC ngày 05/01/2026 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự quy định:  a, Người thực hiện hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác dưới 11% và không có tình tiết định tội khác quy định tại khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự quy định tại Điều 304 của Bộ luật Hình sự, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự…..

b, Người thực hiện hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên 11% thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về 02 tội: Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 304) và Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134) của Bộ luật Hình sự, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Trường hợp này, không xác định hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao là tỉnh tiết dùng vũ khí để định khung hình phạt đối với trường hợp quy định tại điểm đ khoản 2, điểm c và d khoản 3, điểm d và đ khoản 4, điểm b khoản 5 Điều 134 của Bộ luật Hình sự”

Như vậy, trong vụ án nêu trên: Bị hại Nguyễn Văn B rút đơn tố cáo và đề nghị không khởi tố vụ án hình sự đối với hành vi “Cố ý gây thương tích” do tỷ lệ thương tật 04%. Điều này, đặt ra vấn đề: hành vi của A sẽ cấu thành tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” nhưng không cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Tuy nhiên, hiện đang có nhiều quan điểm về việc: có tách hành vi “Cố ý gây thương tích” ra để ra Quyết định không khởi tố vụ án (hoặc Đình chỉ trong trường hợp đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can) riêng và giải quyết hành vi “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” riêng hay không? Trong trường hợp này có phải ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi “Cố ý gây thương tích” hay không? Hay mặc nhiên chỉ xử lý hành vi “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” mà không cần phải tách hành vi “Cố ý gây thương tích” để xử lý riêng lẻ.

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Theo quy định của Điều 134 BLHS thì hành vi dùng dao gây thương tích 4% của Nguyễn Văn A cho Nguyễn Văn B đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015.

Tại khoản 1 và khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 về Khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 1 Điều 134 BLHS là trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại; trường hợp này nếu bị hại hoặc người đại diện hợp pháp đã yêu cầu khởi tố mà sau đó rút yêu cầu khởi tố vụ án, bị can thì cơ quan tiến hành tố tụng phải ra Quyết định không khởi tố vụ án hoặc ra Quyết định đình chỉ vụ án, trừ trường hợp việc rút đơn do bị ép buộc, cưỡng bức. Đồng thời, đối với hành vi “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại Điều 304 BLHS vẫn bị xử lý theo quy định.

Trong trường hợp “Dao là vật thông dụng. Dao không chứng minh được hành vi tàng trữ trái phép độc lập. Dao không chứng minh được lỗi của A về việc biết đó là vũ khí quân dụng”  thì chỉ xử lý theo điểm a khoản 1 Điều 134 BLHS và khi người bị hại rút đơn thì phải Đình chỉ theo khoản 2 Điều 155 BLTTHS. Không đủ cơ sở vững chắc để truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 304 BLHS.

Quan điểm thứ hai: Để đảm bảo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội và “một hành vi không bị xử lý” hai lần. Trong trường hợp này, hành vi “Cố ý gây thương tích” của A cho B cần thu hút về một tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại Điều 304 BLHS để xử lý, không cần thiết phải tách hành vi “Cố ý gây thương tích” ra để xử lý riêng lẻ (như: ban hành Quyết định không khởi tố vụ án, ra Quyết định xử lý hành chính hay Đình chỉ vụ án). Như vậy, mới phù hợp với quy định của BLTTHS cũng như hướng dẫn tại Công văn số 01 ngày 05/01/2026 của Tòa án nhân dân tối cao.

3.     Kiến nghị, đề xuất của tác giả

Từ những vướng mắc trong quá trình công tác nêu trên, tác giả đề xuất các giải pháp cụ thể như sau:

Thứ nhất: Hiện nay Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 đã hết hiệu lực, chưa có văn bản khác thay thế để hướng dẫn cụ thể thế nào là vũ khí, thế nào là hung khí nguy hiểm. Do vậy, thực tiễn cho thấy còn có nhiều cách hiểu khác nhau, quá trình áp dụng pháp luật chưa mang tính thống nhất. Vì vậy, Liên ngành Trung ương cần ban hành văn bản hướng dẫn kịp thời những  quy định cụ thể các nội dung mà Nghị quyết số 01/2026 đã quy định trước đây nhưng hiện nay đã hết hiệu lực.

Thứ hai: Liên ngành Trung ương cần ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể, chi tiết đối với hành vi dùng dao, kiếm (là dao nhọn có tính sát thương cao) thì chỉ xem đây là hành vi dùng vũ khí hay đồng thời cùng áp dụng hành vi dùng hung khí nguy hiểm để định tội danh và khung hình phạt? Ngoài ra, liên ngành trung ương cần có văn bản hướng dẫn về hành vi sử dụng dao với mục đích để tự vệ và chưa gây thương tích cho người khác thì có được xem đây là hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng không?

Thứ ba: Trong mọi trường hợp liên quan đến hành vi sử dụng vũ khí (đặc biệt là trong các tội giết người, cố ý gây thương tích, gây rối trật tự công cộng…) thì việc trưng cầu giám định tư pháp đối với các loại vũ khí là bắt buộc để xác định vũ khí đó có thuộc danh mục “Vũ khí quân dụng” hay không. Thực hiện đúng và đầy đủ các quy định tại khoản 2, khoản 4 và khoản 6 Điều 2 Luật Quản lý vũ khí năm 2024 cũng như Điều 9 Thông tư 75/2024/TT-BCA về danh mục và định nghĩa vũ khí quân dụng.

Trên đây là một số ý kiến, bình luận của tác giả liên quan đến hành vi “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại Điều 304 BLHS. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các độc giả để góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật./.

 

Ban tuyên truyền - Bộ phận hình sự

Viện KSND khu vực 4 – Nghệ An

 

 

 

                                                                   

 

THÔNG BÁO
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1