giới thiệu chung
Skip portletPortlet Menu
 
tin tức sự kiện
Skip portletPortlet Menu
 
lĩnh vực chuyên môn
Skip portletPortlet Menu
 
Thông tin
Skip portletPortlet Menu
 
liên kết website
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
 
 
 
 
tin chi tiết
Skip portletPortlet Menu
 
Một số vi phạm của cơ quan quản lý nhà nước về đất đai và công tác công chứng, chứng thực qua kiểm sát giải quyết các vụ án tranh chấp có liên quan quyền sử dụng đất. (25/09/2018 02:53 PM)

Qua công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Nghệ An năm 2018, nhận thấy, trong thời gian gần đây, các vụ án về tranh chấp dân sự ngày càng tăng, tính chất phức tạp, đặc biệt là các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất. Một trong những nguyên nhân dẫn đến các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất ngày càng phức tạp, việc giải quyết vụ án kéo dài là do công tác quản lý đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa chặt chẽ, không đúng quy định pháp luật; sự phối hợp của cơ quan quản lý nhà nước về đất đai với cơ quan tiến hành tố tụng chưa thực hiện đầy đủ, kịp thời gây khó khăn cho công tác giải quyết các vụ, việc dân sự. Trong phạm vi bài viết, người viết nêu một số vi phạm như sau:


1. Vi phạm của cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai trong việc thực hiện nghĩa vụ của đương sự:


  Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định:


"1. Khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết.


2...


3. Khi xem xét hủy quyết định quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án phải đưa cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền đã ban hành quyết định tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.


Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền đã ban hành quyết định phải tham gia tố tụng và trình bày ý kiến của mình về quyết định cá biệt bị Tòa án xem xét hủy".


Tuy vậy, quá trình giải quyết vụ án dân sự, Tòa án có công văn đề nghị Ủy ban nhân dân huyện (viết tắt là UBND huyện) tham gia tố tụng và có ý kiến đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của đương sự nhưng một số vụ án, UBND huyện không cử người tham gia tố tụng, không có ý kiến đối với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có công văn trả lời nhưng nội dung không đầy đủ, cụ thể, không đúng quy định của pháp luật gây khó khăn trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ của cơ quan tiến hành tố tụng, dẫn đến việc giải quyết vụ án của Tòa án kéo dài, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi tham gia tố tụng.


Ví dụ:


+ Vụ án kiện đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất và hủy quyết định cá biệt giữa nguyên đơn bà Trương Thị X và bị đơn bà Hồ Thị T, trú tại xóm Đ, xã N, huyện L, tỉnh A: Vụ án được Tòa án nhân dân tỉnh A thụ lý ngày 05/7/2017, ngày 19/12/2017 TAND tỉnh A có công văn thể hiện Tòa án nhân dân tỉnh A đã nhiều lần thông báo cho UBND huyện L tham gia tố tụng và có ý kiến đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Trương Thị X nhưng 8 tháng sau khi nhận được công văn đề nghị cử người tham gia tố tụng của TAND tỉnh A, UBND huyện L vẫn không cử người tham gia tố tụng.


+ Vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn bà Hồ Thị N và bị đơn ông Nguyễn Văn V, trú tại xóm 4, xã Q, huyện L, tỉnh A. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện L có công văn đề nghị UBND huyện L trả lời về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Hồ Thị N có đúng quy định pháp luật không. UBND huyện L trả lời như sau: "tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1997, hộ bà Hồ Thị N cũng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như các trường hợp khác trên địa bàn xã". Việc UBND huyện L trả lời như vậy là không rõ ràng, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án.


2. Vi phạm trong công tác quản lý và lưu trữ hồ sơ địa chính:


Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về việc yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ như sau:


"Trường hợp có yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.


Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; hết thời hạn này mà không cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án thì cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện yêu cầu của Tòa án mà không có lý do chính đáng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Việc xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân không phải là lý do miễn nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án".


Theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Luật Lưu trữ năm 2011 quy định một trong những hành vi bị nghiêm cấm là "Chiếm đoạt, làm hỏng, làm mất tài liệu lưu trữ".


Theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Luật Lưu trữ năm 2011; điểm a khoản 3 Điều 30 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về thời hạn bảo quản hồ sơ địa chính; Phụ lục bảng thời hạn bảo quản hồ sơ, tài liệu chuyên ngành tài nguyên và môi trường ban hành kèm theo Thông tư số 46/2016/BTNMT ngày 27/12/2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định thời hạn bảo quản hồ sơ, tài liệu chuyên ngành tài nguyên và môi trường thì các tài liệu đo đạc địa chính, sổ địa chính, sổ mục kê đất đai, sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyết định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hồ sơ thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất quy định tại Điều 23 của Thông tư Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 được bảo quản vĩnh viễn.


Pháp luật quy định như vậy, tuy nhiên, một số vụ án liên quan đến tranh chấp đất đai, UBND cấp huyện không cung cấp được các tài liệu, hồ sơ địa chính để đảm bảo việc giải quyết vụ án kịp thời, đúng quy định pháp luật.


Ví dụ:


+ Vụ án kiện đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất và hủy quyết định cá biệt giữa nguyên đơn bà Trương Thị X và bị đơn bà Hồ Thị T, trú tại xóm Đ, xã N, huyện L, tỉnh A: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh A có công văn đề nghị Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện L cung cấp cho Tòa án hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện L cấp cho vợ chồng bà Hồ Thị T vào năm 1997 (thửa đất đang tranh chấp). Sau khi nhận được công văn trên của Tòa án nhân dân tỉnh A, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất UBND huyện L trả lời Tòa án nhân dân tỉnh A như sau: "Quyền sử dụng đối với diện tích 363m2, thuộc thửa đất số 351, tờ bản đồ số 5, tại thôn H.B, xã N. Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất đã sao lục và cung cấp cho Tòa án nhân dân tỉnh A một bản sao sổ địa chính mang tên ông T.T". Như vậy, công văn trả lời của văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất không nêu rõ hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất đang tranh chấp do UBND huyện L cấp cho vợ chồng bà Hồ Thị T năm 1997 hiện nay còn hay không, nếu còn thì có được lưu trữ tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất hay không.


+ Vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy quyết định cá biệt giữa nguyên đơn ông Trần H và bị đơn ông Trần T, trú tại xóm 6, xã M, huyện Y, tỉnh A. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh A có công văn yêu cầu UBND huyện Y cung cấp hồ sơ về quy trình, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Y cấp cho ông Trần T (thửa đất đang tranh chấp). Sau khi nhận được công văn yêu cầu cung cấp hồ sơ của Tòa án nhân dân tỉnh A, UBND huyện Y trả lời qua kiểm tra kho lưu trữ UBND huyện Y, đối với hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên chỉ tìm thấy "đơn xin đăng ký quyền sử dụng" của ông Trần T, không tìm thấy quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. UBND huyện Y cho rằng việc không tìm thấy hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên là do lịch sử để lại.


3. Vi phạm quy định pháp luật về công chứng, chứng thực:


Theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực của bản sao từ bản chính, chứng thực về chữ ký và khoản 1 Điều 9 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch thì người chứng thực phải thực hiện việc chứng thực một cách trung thực, khách quan, chính xác.


Tuy nhiên, trong một số vụ án, Uỷ ban nhân dân cấp xã chứng thực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không chính xác, khách quan, cùng một thửa đất, cùng một đối tượng chuyển nhượng nhưng UBND xã lại chứng thực cho hai đối tượng nhận chuyển nhượng khách nhau, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong giải quyết vụ án.


Ví dụ:


Trong vụ án tranh chấp chia tài sản chung sau khi ly hôn, giữa nguyên đơn chị Phạm Thị L và bị đơn anh Nguyễn Hữu H, đều trú tại xóm 7, xã S, huyện A, tỉnh N. Quá trình giải quyết vụ án, chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Hữu L tranh chấp với nhau thửa đất lâm nghiệp A, địa chỉ tại xã T, huyện C, tỉnh N. Chị Phạm Thị L khai thửa đất lâm nghiệp trên là tài sản chung của chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Hữu H, được anh Nguyễn Hữu H và chị Phạm Thị L mua của bà Lang Thị N vào năm 2010, nhưng sau đó hai bên mới làm giấy chuyển nhượng đề ngày 05/11/2013 có chứng thực của Chủ tịch UBND xã T, huyện C, tỉnh N. Anh Nguyễn Hữu H khai thửa đất lâm nghiệp trên không phải là tài sản chung của chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Hữu H, thửa đất trên là của anh Nguyễn Hữu T (anh trai anh Nguyễn Hữu H) mua của bà Lang Thị N và có làm giấy chuyển nhượng đề ngày 10/4/2010 có chứng thực của Chủ tịch UBND xã T, huyện C, tỉnh N.


Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện A có công văn đề nghị Chủ tịch UBND xã T, huyện C xác định rõ tính hợp pháp của hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên, ai là người nhận chuyển nhượng đất lâm nghiệp của bà Lang Thị N.

Ngày 10/02/2017, UBND xã T, huyện C ban hành công văn trả lời TAND huyện A: Do công tác kiểm soát hồ sơ chưa chặt chẽ nên UBND xã đã hai lần xác nhận việc chuyển các thửa đất lâm nghiệp trên cho hai đối tượng nhận chuyển nhượng khác nhau; UBND xã T, huyện C xác nhận việc chuyển nhượng đất lâm nghiệp giữa bà Lang Thị N và anh Nguyễn Hữu H, chị Phạm Thị L là đúng thực tế và hợp pháp. Ngày 10/10/2017, UBND xã T tiếp tục xác nhận việc gia đình ông Nguyễn Hữu T mua các thửa đất lâm nghiệp trên của bà Lang Thị N là đúng thực tế.


Như vậy, UBND xã T, huyện C, tỉnh N chứng thực 02 hợp đồng chuyển nhượng cùng một thửa đất lâm nghiệp A của bà Lang Thị N cho hai đối tượng là ông Nguyễn Hữu T và vợ chồng ông Nguyễn Hữu H, bà Phạm Thị L. Việc Chủ tịch UBND xã T chứng thực hợp đồng chuyển nhượng như trên là vi phạm quy định pháp luật và gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong  giải quyết vụ án.


Trên đây là một số dạng vi phạm trong công tác quản lý nhà nước về đất đai; vi phạm của cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai trong việc thực hiện nghĩa vụ của đương sự; vi phạm về công chứng, chứng thực mà thông qua công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, phòng 9 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đã phát hiện được.


Để việc giải quyết các vụ án kịp thời, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và nâng cao trách nhiệm, hiệu quả trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai tại địa phương, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đã ban hành kiến nghị tới Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An một số nội dung như:


- Đề nghị UBND tỉnh Nghệ An chỉ đạo các sở, phòng, ban, cơ quan chuyên môn, UBND huyện và UBND xã, phường, thị trấn tổ chức lưu trữ, quản lý hồ sơ địa chính theo đúng quy định của pháp luật. Khi có sát nhập, chia tách địa giới hành chính hoặc chuyển giao về công tác cán bộ, tổ chức trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn tỉnh cần phải lập biên bản giao nhận hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện quản lý nhà nước về đất đai và chứng thực các giao dịch dân sự.


- Chỉ đạo UBND các cấp trên địa bàn tỉnh Nghệ An thực hiện nghiêm túc quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong việc tham gia tố tụng, cung cấp tài liệu chứng cứ cho Cơ quan tiến hành tố tụng đầy đủ, kịp thời.


- UBND tỉnh Nghệ An cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ Tài nguyên và Môi trường các cấp, những người trực tiếp thực hiện công tác quản lý đất đai để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về đất đai tại địa phương.


Sau khi nhận được kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An đã có công văn chỉ đạo Sở tài nguyên và môi trường, UBND các cấp chấn chỉnh kịp thời các tồn tại, thiếu sót, thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan trong việc giải quyết tranh chấp liên quan đến đất đai, công tác quản lý, lưu trữ hồ sơ địa chính của UBND cấp huyện, chứng thực của UBND cấp xã theo nội dung kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An.


Trần Thị Tâm

Phòng 9 - Viện KSND tỉnh Nghệ An

 |  Đầu trang
 
Tin đã đưa:
 
 
 
 
thông báo
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
 
 
 
 
thư viện ảnh
Skip portletPortlet Menu