giới thiệu chung
Skip portletPortlet Menu
 
tin tức sự kiện
Skip portletPortlet Menu
 
lĩnh vực chuyên môn
Skip portletPortlet Menu
 
Thông tin
Skip portletPortlet Menu
 
liên kết website
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
 
 
 
 
tin chi tiết
Skip portletPortlet Menu
 
Trao đổi nghiệp vụ: Trường hợp Trần Văn A được xác định là có tiền án hay nhân thân xấu? (06/03/2019 03:10 PM)


Ngày 01/02/2019 Trần Văn A bị Cơ quan CSĐT Công an thị xã X khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 2 Điều 173 BLHS 2015.


Quá trình điều tra xác định:


Tại Bản án số 48/2011/HSST ngày 24/01/2011 của Tòa án nhân dân thị xã X xử phạt Trần Văn A 12.000.000 đồng về tội “ Đánh bạc”, phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.


Do Trần Văn A có hộ khẩu thường trú tại xã B, thành phố C, tỉnh N nên ngày 15/03/2011, Chi cục THADS thị xã X đã ra Quyết định Ủy thác thi hành án đến Chi cục thi hành án thành phố C để yêu cầu thực hiện việc thi hành số tiền 12.000.000 đồng và 200.000 đông án phí.


Xác minh tại Chi cục THADS thị xã X, tỉnh N xác định giữa Chi cục THADS thị xã X và Chi cục THADS thành phố C có biên bản giao nhận quyết định ủy thác THA và các tài liệu liên quan đến việc thi hành án (có biên bản giao nhận);


Tiến hành xác minh việc chấp hành bản án đối với Trần Văn A tại Chi cục THADS thành phố C nhận được kết quả: không có tài liệu lưu trữ liên quan đến việc chấp hành Bản án số 48/2011/HSST ngày 24/01/2011 đối với Trần Văn A.


Từ kết quả xác minh trên xác định Trần Văn A có tiền án hay không?


Quan điểm thứ nhất: Trần Văn A được áp dụng thời hiệu thi hành án dân sự và được xóa án tích theo quy định của pháp luật; tại thời điểm phạm tội mới Trần Văn A được xác định là có nhân thân xấu, lý do:
Tại khoản 1 Điều 36 Luật thi hành án dân sự quy định:


“1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành đối với phần bản án, quyết định sau đây:


a) Hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí;


Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định thi hành án.”


Tại khoản 1 Điều 55 Luật THADS quy định:


"1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải uỷ thác thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có tài sản, làm việc, cư trú hoặc có trụ sở.


..."
Tại khoản 2 Điều 57 Luật THADS quy định:


“…..


2. Cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác không được trả lại quyết định ủy thác cho cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác mà phải tiếp tục thực hiện việc thi hành án theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quyết định ủy thác có sự nhầm lẫn, sai sót rõ ràng về thẩm quyền của cơ quan nhận ủy thác thi hành án, nội dung thi hành án.


Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án và thông báo bằng văn bản cho cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác về việc nhận được quyết định ủy thác.”


Căn cứ vào các quy định trên xác định: khi bản án số 48/2011/HSST ngày 24/01/2011 có hiệu lực pháp luật. Chi cục THADS thị xã X đã ra Quyết định ủy thác thi hành án đến Chi cục THADS thành phố C, tỉnh N nơi bị án Trần Văn A cư trú tuân thủ đúng về thời hạn và quy định của Luật THADS. Việc Trần Văn A thi hành khoản tiền phạt 12.000.000 đồng và 200.000 đồng án phí thuộc trường hợp thi hành án chủ động. Như vậy, sau 05 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định ủy thác thi hành án của chi cục THADS thị xã X, thủ trưởng Chi cục THADS thành phố C, tỉnh N phải ra Quyết định thi hành án và thông báo bằng văn bản cho cơ quan THADS thị xã X về việc nhận được quyết định ủy thác. Thực tế không chứng minh được Chi cục THADS thành phố C đã ra Quyết định thi hành án đối với khoản tiền phạt 12.000.000 đồng và 200.000 đồng án phí HSST.


Theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2014 quy định thời hiệu yêu cầu thi hành án: “Trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án.”


Tại Điều 60 BLHS 2015 quy định về thời hiệu thi hành bản án:


"1. Thời hiệu thi hành bản án hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó người bị kết án, pháp nhân thương mại bị kết án không phải chấp hành bản án đã tuyên.


2. Thời hiệu thi hành bản án hình sự đối với người bị kết án được quy định như sau:


a) 05 năm đối với các trường hợp xử phạt tiền.......".


Việc thực hiện nghĩa vụ nộp tiền phạt của Trần Văn A đến thời điểm thực hiện tội phạm mới đã quá thời hạn 5 năm. Như vậy thời hiệu thi hành bản án sơ thẩm đã hết. Theo quy định của Điều 60 Bộ luật hình sự thì Trần Văn A không phải chấp hành bản án sơ thẩm số 48/2011/HSST ngày 24/01/2011 nữa, đồng nghĩa với việc A không có nghĩa vụ phải thi hành số tiền phạt 12.000.000 đồng và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 70 BLHS 2015 đến thời điểm phạm tội mới (02/01/2019) Trần Văn A đương nhiên được xóa án tích. Do đó tại bản án mới Trần Văn A chỉ xác định là có nhân thân xấu, không có tiền án. (cá nhân tôi thống nhất với quan điểm thứ nhất)


Quan điểm thứ hai: Trần Văn A được xem là chưa thi hành bản án, cần xác định có 01 tiền án tại bản án mới, lý do:


Trần Văn A tham gia phiên tòa, đã nghe nội dung bản án được thẩm phán tuyên án tại hội trường xét xử; Trần Văn A cũng đã nhận được bản án do Tòa án đã xét xử gửi theo quy định. Bản thân Trần Văn A biết rõ nghĩa vụ của mình là phải thi hành khoản tiền phạt 12.000.000 đồng và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.


Tại khoản 1 Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2014 quy định thời hiệu yêu cầu thi hành án: “Trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án."


Như vậy, nếu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền không ra Quyết định thi hành án thì bản thân Trần Văn A có quyền gửi đơn yêu cầu thi hành án để thực hiện nghĩa vụ của mình. Trần Văn A không chứng minh được do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án. Do đó Trần Văn A không được áp dụng thời hiệu thi hành án. Đến thời điểm phạm tội mới Trần Văn A chưa thi hành việc nộp khoản tiền phạt 12.000.000 đồng và tiền án phí 200.000đồng. Do đó xác định Trần Văn A có 01 tiền án.


(Đối với trường hợp trên các cơ quan có thẩm quyền cần xem xét trách nhiệm của Cơ quan và cá nhân có liên quan trong việc không ra quyết định thi hành án chủ động, xác minh điều kiện thi hành án và quản lý hồ sơ thi hành án của đối tượng phải thi hành án.)


Từ thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy còn có nhưng quan điểm nhận thức pháp luật khác nhau gây bất lợi cho người phải thi hành án và bị can, bị cáo trong các vụ án. Cần phải có nhận thức đúng đắn để pháp luật được áp dụng thống nhất.


Rất mong nhận được sự trao đổi nghiệp vụ của các đồng chí./.


                                                                                             Nguyễn Thị Hậu
                                                                                   Viện KSND thị xã Thái Hòa


 |  Đầu trang
 
Tin đã đưa:
 
 
 
 
thông báo
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
 
 
 
 
thư viện ảnh
Skip portletPortlet Menu