giới thiệu chung
Skip portletPortlet Menu
 
tin tức sự kiện
Skip portletPortlet Menu
 
lĩnh vực chuyên môn
Skip portletPortlet Menu
 
Thông tin
Skip portletPortlet Menu
 
liên kết website
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
 
 
 
 
tin chi tiết
Skip portletPortlet Menu
 
Vấn đề vướng mắc cần trao đổi trong việc áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (03/06/2020 08:03 AM)

Ngày 15/5/2019 Bộ Lao động – Thương binh và xã hội ban hành Nghị định số 1866/VBHN-BLĐTBXH Quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đây là văn bản hợp nhất bãi bỏ, sửa đổi một số Điều của Nghị định 43/2005/NĐ-CP ngày 05/4/2005 của Chính phủ; Nghị định 135/2004/NĐ-CP ngày 10/6/2004 của Chính phủ; Nghị định số 61/2011/NĐ-CP ngày 26/7/2011 của Chính phủ.


Qua nghiên cứu nội dung văn bản và thực tiễn áp dụng cá nhân tôi thấy rằng còn có một số vấn đề còn vướng mắc trong quá trình áp dụng cụ thể là:


Tại khoản 4 Nghị định 1866 quy định:


Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc


“Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 03 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện hành vi sử dụng ma túy trái phép lần cuối bị phát hiện và lập biên bản theo quy định tại Điều 8 Nghị định này”. Thời hiệu này không có gì thay đổi so với quy định tại Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ. Tuy nhiên, trong quá trình thực tiễn có một số trường hợp để quá thời hiệu dẫn tới có nhiều cách hiểu khác nhau, ví dụ:


Nguyễn Văn A có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy lần cuối bị phát hiện và lập biên bản ngày 18/02/2020, sau đó Công an cấp xã đã chuyển hồ sơ cho Phòng Tư pháp huyện thẩm định vào ngày 18/5/2020, tiếp đó ngày 22/5/2020 Phòng Tư pháp huyện thẩm định và có văn bản trả lời tính pháp lý của hồ sơ. Đến ngày 29/5/2020 Tòa án huyện thụ lý hồ sơ xem xét đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn A và dự kiến mở phiên họp vào ngày 04/6/2020 . Vấn đề đặt ra đó là đến thời điểm Tòa án thụ lý giải quyết vụ việc nêu trên thì đã quá thời hạn 03 tháng quy định tại Điều 4 Nghị định số 1866 ngày 15/5/2019 của Chính phủ, do vậy quan điểm thứ nhất cho rằng: cần phải căn cứ điểm a khoản 1 Điều 15 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân để ra quyết đình chỉ xem xét vì lý do đã hết thời hiệu.


Cũng có quan điểm thứ hai cho rằng: Về điều kiện thủ tục pháp lý Nguyễn Văn A đã có căn cứ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, việc để quá thời hạn chỉ là vi phạm về thời hạn xem xét quyết định, mặt khác tại khoản 3 Điêu 12 Nghị định số 1866 quy định:


“3. Việc kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Khoản 2 Điều này phải bảo đảm phù hợp, đầy đủ theo quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính đối với các vấn đề sau:


b) Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 4 Nghị định này;”


Như vậy tại thời điểm kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ thì trường hợp Nguyễn Văn A vẫn nằm trong thời hiệu. Do đó vẫn chấp nhận xem xét đưa Nguyễn Văn A vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.


Từ những thực tế nêu trên cá nhân tôi đồng tình cùng với quan điểm thứ nhất đó là thời hiệu giải quyết phải được tính từ khi hành vi vi phạm bị phát hiện lập biên bản cho đến khi kết thúc bằng việc ra quyết định của Tòa án chỉ là 03 tháng, nếu quá thời hiệu trên mà chưa ra được quyết định thì phải áp dụng có lợi cho người vi phạm nên phải ra quyết định đình chỉ xem xét đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Để hạn chế vướng mắc nêu trên các Cơ quan chức năng cần bám sát hướng dẫn số 1866/VBHP-BLĐTBXH ngày 15/5/2019 Bộ Lao động – Thương binh và xã hội, đồng thời để khắc phục tình trạng ở giai đoạn lập hồ sơ ở Công an cấp xã quá lâu, dẫn đến vi phạm về mặt thời hiệu Chính phủ và các liên ngành Trung ương cần có văn bản hướng dẫn cụ thể quy định thời hiệu 03 tháng được tính như thế nào? Một là kể từ ngày sử dụng trái phép chất ma túy lần cuối cùng bị phát hiện và lập biên bản đến ngày lập hồ sơ. Hai là tính đến ngày Phòng Tư pháp tiếp nhận hồ sơ  kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ. Ba là ngày Tòa án thụ lý hay ngày Tòa án mở phiên họp, qua đó kịp thời tháo gỡ những vướng mắc thực tế về mặt thời hiệu cho địa phương.



                                                     Hoàng văn Lâm - Phó Viện trưởng

Viện KSND huyện Quỳ Châu


 |  Đầu trang
 
Tin đã đưa:
 
 
 
 
thông báo
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
 
 
 
 
thư viện ảnh
Skip portletPortlet Menu