giới thiệu chung
Skip portletPortlet Menu
 
tin tức sự kiện
Skip portletPortlet Menu
 
lĩnh vực chuyên môn
Skip portletPortlet Menu
 
Thông tin
Skip portletPortlet Menu
 
liên kết website
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
 
 
 
 
tin chi tiết
Skip portletPortlet Menu
 
Một số nội dung góp ý Dự thảo Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án (13/04/2020 03:33 PM)

1. Về phạm vi hòa giải, đối thoại tại Tòa án và tên gọi dự thảo Luật


- Về phạm vi hòa giải, đối thoại:


Thống nhất về phạm vi hòa giải đối thoại như quy định tại dự thảo Luật là những tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mà có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu gửi Tòa án có thẩm quyền theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự và Luật tố tụng hành chính.


Tuy nhiên, tại Điều 2 dự thảo cần xem xét, cân nhắc về nội dung quy định “công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành tại Tòa án” Vì:


Hoạt động hòa giải, đối thoại quy định trong dự thảo luật này được thực hiện trước khi Tòa án thụ lý đơn khởi kiện của đương sự, do đó bản chất của hoạt động hòa giải, đối thoại ngoài tố tụng, không bị điều chỉnh bởi các quy định Bộ luật tố tụng dân sự và Luật tố tụng hành chính. Hòa giải viên hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; tôn trọng sự tự nguyện, thỏa thuận, thống nhất của các bên đương sự (Điều 3 dự thảo luật). Vì vậy, phạm vi điều chỉnh của Luật này chỉ nên bắt đầu sau khi Tòa án chuyển đơn khởi kiện đến Ban hòa giải, đối thoại (hoặc Tổ hòa giải, đối thoại) để tiến hành hòa giải đối thoại và kết thúc sau khi Hòa giải viên chuyển biên bản ghi nhận kết quả hòa giải đối thoại cho Tòa án. Còn đối với các quy định về ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành không phải là hoạt động của Hòa giải viên mà đây là hoạt động của Tòa án thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của luật tố tụng dân sự và tố tụng hành chính nên không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này. Nếu luật này quy định phạm vi điều chỉnh cả trình tự, thủ tục ra quyết định hòa giải thành, đối thoại thành thì vô hình chung Tòa án giải quyết việc dân sự, vụ án hành chính không theo trình tự thủ tục tố tụng. Vì vậy, nên bỏ nội dung  quy định “công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành tại Tòa án” quy định tại khoản 1 Điều 2 dự thảo luật.


Tại khoản 2 Điều 2 dự thảo luật nên thay cụm từ “Luật này góp phần giải quyết nhanh chóng…” thành “Hòa giải, đối thoại ngoài Tòa án góp phần giải quyết nhanh chóng…”


- Về tên gọi của dự thảo luật: không đồng tình với tên gọi  là “Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án” vì những lý do sau:


+ Một là: Mặc dù, dự thảo luật có quy định vai trò của Tòa án như  Tòa án nhận đơn khởi kiện, xem xét đơn và phân công Hòa giải viên tiến hành hòa giải; Hòa giải viên do Tòa án tuyển chọn, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, quản lý…; việc hòa giải, đối thoại cũng được diễn ra tại trụ sở Tòa án, nếu các bên không lựa chọn địa điểm khác. Tuy vậy, theo nội dung dự thảo Luật quy định thì Hòa giải viên không phải là công chức, viên chức thuộc biên chế của ngành Tòa án; không thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Luật tổ chức Tòa án. Do đó việc quy định Tòa án tuyển chọn, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, quản lý hòa giải viên chỉ là quản lý tổ chức, hành chính. Bản chất hoạt động hòa giải, đối thoại quy định trong dự thảo luật này là hòa giải ngoài tố tụng, được thực hiện trước khi Tòa án thụ lý đơn khởi kiện của đương sự; Hòa giải viên tiến hành Hòa giải, đối thoại độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (khoản 7 Điều 3 dự thảo Luật). Vì vậy, theo chúng tôi việc đặt tên Luật phải phù hợp với phạm vi điều chỉnh, nhiệm vụ của Luật hòa giải, đối thoại, không thể căn cứ vào việc Tòa án quản lý về công tác tổ chức, hành chính hoặc địa điểm hòa giải, đối thoại tại Tòa để đặt tên “Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án”. Mặt khác, nếu tên Luật là “Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án” dễ gây nhầm lẫn cho người dân đây là hoạt động hòa giải, đối thoại của Tòa án.


+ Hai là: Theo quy định dự thảo luật, sau khi Hòa giải viên tiến hành hòa giải, đối thoại thành thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định công nhận kết quả hòa giải, đối thoại thành là phù hợp. Tuy nhiên, việc các bên yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành là việc dân sự, vụ án hành chính nên Tòa án phải thụ lý, giải quyết theo trình tự thủ tục quy định Bộ luật tố tụng dân sự  hoặc Luật tố tụng hành chính. Vì vậy, cần phải có các quy định Luật tố tụng điều chỉnh trình tự, thủ tục việc công nhận quyết định hòa giải, đối thoại thành; Tòa án không thể giải quyết việc dân sự, vụ án hành chính ngoài tố tụng được. Mặt khác, pháp luật hiện hành đã quy định một số cơ chế hòa giải, đối thoại (như Hòa giải cơ sở theo quy định của Luật hòa giải cơ sở; hòa giải tranh chấp đất đai theo Luật đất đai, đối thoại giữa người khiếu nại và cơ quan, tổ chức, cá nhân bị khiếu nại…) và nay là Hòa giải, đối thoại theo quy định luật này. Tuy phạm vi điều chỉnh, trình tự thủ tục có khác nhau nhưng bản chất các hình thức hòa giải nêu trên và Hòa giải đối thoại theo quy định của luật này đều là Hòa giải ngoài Tòa án (ngoài tố tụng) và khi các bên có đơn yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thì Tòa án phải giải quyết theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự (quy định tại chương XXXIII) hoặc Luật tố tụng hành chính. Vì vậy theo chúng tôi để phù hợp với bản chất công tác hòa giải, đối thoại, đối tượng điều chỉnh, nhiệm vụ của Luật Hòa giải, đối thoại; đồng thời phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và luật tố tụng hành chính như đã phân tích trên thì nên quy định tên gọi của luật là “Luật hòa giải, đối thoại ngoài Tòa án” hoặc “Luật hòa giải, đối thoại ngoài tố tụng”


2. Về quan hệ giữa dự thảo luật với các luật tố tụng


Thống nhất với quan điểm của Ủy ban thường vụ Quốc hội về Hòa giải, đối thoại  theo quy định của luật này được thực hiện trước khi Tòa án thụ lý theo trình tự tố tụng; do đó bản chất của hoạt động hòa giải, đối thoại được quy định trong dự thảo Luật này là ngoài tố tụng. Các quy định của dự thảo luật  về hoạt động hòa giải, đối thoại này phải đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất với các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Luật tố tụng hành chính.


Tuy nhiên, dự thảo luật này cũng phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Tòa án về giải quyết các vụ việc dân sự, vụ án hành chính phải đảm bảo theo trình tự thủ tục luật tố tụng quy định. Tránh trường hợp Luật này vừa quy định công tác hòa giải, đối thoại của Hòa giải viên, vừa quy định điều chỉnh cả hoạt động tố tụng của Tòa án (thay luật tố tụng).  Vì vậy, dự thảo luật cần cân nhắc sửa đổi các nội dung liên quan đến nội dung này như sau:


- Để đảm bảo nguyên tắc Hòa giải viên tiến hành hòa giải độc lập, chỉ tuân theo pháp luật (khoản 7 Điều 3 dự thảo Luật); Luật này nên quy định rõ trách nhiệm của Tòa án đối với công tác hòa giải, đối thoại là thực hiện công tác quản lý hành chính, công tác tổ chức và quan hệ giữa Tòa án và Hòa giải viên chỉ giới hạn trong phạm vi là “sau khi nhận đơn khởi kiện, người khởi kiện mà đương sự đồng ý lựa chọn cơ chế hòa giải, đối thoại thì Thẩm phán chuyển đơn đến Ban hòa giải, đối thoại (hoặc tổ hòa giải, đối thoại) để thực hiện theo Luật hòa giải, đối thoại ngoài Tòa án. Đối với các hoạt động hòa giải, đối thoại do Hòa giải viên thực hiện độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.


- Dự thảo luật nên bỏ các nội dung “phân công Thẩm phán phụ trách Hòa giải và tham gia phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại để xác nhận sự kiện các bên tự nguyện hòa giải, đối thoại và chữ ký các bên trong biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 18 và điểm d khoản 1 Điều 25 và khoản 6 Điều 26, điểm h khoản 1 Điều 28 dự thảo Luật. Việc quy định nội dung này vô hình chung lẫn lộn giữa hoạt động hòa giải ngoài tố tụng và hoạt động hòa giải trong tố tụng đồng thời vi phạm nguyên tắc “Hòa giải viên tiến hành hòa giải độc lập”. Mặt khác, tiêu chuẩn bổ nhiệm Hòa giải viên theo quy định phải là người đã được bổ hiệm chức danh Thẩm phán, Kiểm sát Viên, Chấp hành viên, Thanh tra viên và Luật sư có kinh nghiệm 10 năm…nên có đủ khả năng thực hiện tốt công tác hòa giải nên việc Thẩm phán ký vào biên bản là không cần thiết vì việc hòa giải này Hòa giải viên cũng ký nhận kết quả hòa giải và chịu trách nhiệm với việc thực hiện nhiệm vụ của mình.


3. Về việc thu, nộp chi phí hòa giải, đối thoại:


Để giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước, đề nghị:


- Cần quy định về thu chi phí khi hòa giải viên xem xét hiện trạng tài sản liên quan đến tranh chấp, khiếu kiện, không bất cứ tài sản đó nằm ở ngoài phạm vi lãnh thổ của tỉnh. Bởi vì không chỉ khi tài sản nằm ngoài lãnh thổ tỉnh thì chi phí mới lớn mà nhiều trường hợp tài sản nằm trong phạm vi tỉnh nhưng chi phí vẫn lớn do: địa bàn tỉnh rông, phương tiện đi lại khó khăn phải thuê phương tiện, nhờ người có kiến thức vẽ sơ đồ tài sản, ...


- Bổ sung thêm trường hợp thu chi phí hòa giải đối với các vụ việc dân sự có giá ngạch vì trên thực tế có nhiều vụ việc dân sự mà giá trị tài sản lớn (tranh chấp QSD đất, kiện đòi nợ, chia tài sản trong li hôn hoặc sau li hôn...).


4. Về tiêu chuẩn của Hòa giải viên, quyền và nghĩa vụ của Hòa giải viên, quan hệ giữa Tòa án và Hòa giải viên


4.1 Cơ bản nhất trí như dự thảo và giải trình của UBTVQH về tiêu chuẩn của Hòa giải viên; về cơ chế bổ nhiệm Hòa giải viên ; về quyền và nghĩa vụ của Hòa giải viên. Tuy nhiên cần sửa đổi, bổ sung Điều 11 về hồ sơ đề nghị cần có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ hòa giải, đối thoại của Tòa án để phù hợp với quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 10.


4.2. Về quan hệ giữa Tòa án và Hòa giải viên


Theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 1 dự thảo thì phạm vi điều chỉnh “hòa giải, đối thoại theo quy định của Luật này được thực hiện trước khi Tòa án thụ lý đơn khởi kiện ...” như vậy đây là hoạt động tiền tố tụng và trên cơ sở tự nguyện của các bên tham gia hòa giải, đối thoại nên không nhất thiết phải quy định có một Thẩm phán tham gia và tham gia ngay từ giai đoạn xem xét, phân loại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu. Trong bối cảnh hiện nay, mỗi năm Tòa án nhân dân các cấp phải thụ lý giải quyết hàng ngàn các vụ việc tranh chấp, khiếu kiện từ các lĩnh vực khác nhau, nhiều nhất là các vụ, việc trong lĩnh vực dân sự, hành chính. Do khiếu kiện, tranh chấp ngày càng gia tăng về số lượng và tính chất ngày càng phức tạp là một áp lực rất lớn đối với ngành Tòa án đòi hỏi phải có những giải pháp để giúp giảm tải khối lượng công việc ngày càng nặng nề. Theo quy định của Luật hòa giải, đối thoại thì việc tổ chức hòa giải, đối thoại một phần nhằm làm giảm tải áp lực công việc cho Thẩm phán, nếu quy định như dự thảo Luật không làm giảm tải công việc so với tình trạng hiện nay mà còn tăng thêm lượng công việc. Vì vậy, cần quy định Thẩm phán chỉ tham gia khi Lập biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại thành và ban hành Quyết định công nhận.


5. Về trình tự nhận, xử lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu tại Tòa án và chỉ định Hòa giải viên


- Theo quy định điểm a khoản 1 Điều 8 dự thảo Luật thì căn cứ để hòa giải, đối thoại trước hết là người khởi kiện và các bên về phải tự nguyện tham gia hòa giải, đối thoại và đây là quyền lựa chọn của họ chứ không mang tính chất bắt buộc. Vì vậy, chúng tôi thống nhất dự thảo quy định rõ sau khi thông báo cho người nộp đơn khởi kiện biết về việc lựa chọn hòa giải, đối thoại theo quy định của Luật này, tuy nhiên bổ sung thêm cụm từ “ họ có quyền” vào khoản 3 Điều 18, cụ thể nội dung quy định như sau: “Trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, nếu không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 19 của Luật này thì Tòa án thông báo bằng văn bản cho người nộp đơn biết về việc họ có quyền lựa chọn hòa giải, đối thoại theo quy định của Luật này”.


- Khoản 4 Điều 18 cần thay nội dung “về những nội dung đã thông báo” trong dự thảo luật bằng nội dung “họ có đồng ý hòa giải, đối thoại không”. cụ thể nội dung quy định như sau: “Trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án, người được thông báo theo khoản 3 Điều này phải trả lời cho Tòa án biết họ có đồng ý hòa giải, đối thoại không…..”


Theo quy định khoản 5 Điều 18 dự thảo luật trong trường hợp đã thông báo lần thứ hai nhưng quá thời hạn người được thông báo vẫn không trả lời, thì Tòa án phân công Thẩm phán phụ trách hòa giải đối thoại. Theo chúng tôi việc hòa giải, đối thoại là người khởi kiện và các bên về phải tự nguyện tham gia hòa giải, đối thoại và đây là quyền lựa chọn của họ chứ không mang tính chất bắt buộc nên trường hợp Tòa án đã thông báo và tống đạt thông báo hợp lệ lần thứ hai mà họ không có ý kiến gì thì coi như họ từ bỏ quyền của mình nên để bảo đảm việc giải quyết vụ án được nhanh chóng thì trong trường hợp này không tiến hành các bước theo thủ tục hòa giải và đối thoại nữa mà Tòa án xử lý đơn, thụ lý giải quyết vụ án dân sự, vụ việc hành chính theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự và tố tụng hành chính nhằm đảm bảo việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, kịp thời. Vì vậy, theo chúng tôi khoản 5 Điều 18 nên sửa lại nội dung như sau: “…Nếu quá thời hạn quy định tại khoản 4 Điều này mà người được thông báo vẫn không trả lời thì Tòa án xử lý đơn theo pháp luật tố tụng”.


- Cần sửa đổi quy định tại Khoản 4, Khoản 5, Khoản 6 Điều 18 theo hướng: Hết thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án, nếu người được thông báo đồng ý hòa giải thì Tòa án xử lý theo Điểm a: “Phân công Thẩm phán...”; Nếu người được thông báo không có ý kiến thì Tòa án thông báo lần thứ hai, nếu vẫn tiếp tục không trả lời thì Tòa án xử lý theo Điểm b: “Chuyển đơn xử lý theo quy định của pháp luật”. Không nên quy định Thẩm phán tiếp tục chỉ định Hòa giải viên vì không có các bên tham gia để hòa giải và không phù hợp nguyên tắc chung là sự tự nguyện của các bên. Do đó cần quy định trong trường hợp người nộp đơn không trả lời Tòa án thì vụ, việc được tiến hành xem xét thụ lý theo trình tự tố tụng để không kéo dài thời gian và phải tiến hành nhiều thủ tục không cần thiết.


- Đề nghị bổ sung thêm điều luật về "những trường hợp không tiến hành hòa giải được "và sửa tên điều 19 thành "những trường hợp không được tiến hành hòa giải, đối thoại". Lí do: chúng ta cần phân biệt trường hợp không được tiến hành hòa giải, đối thoại là khác với không tiến hành hòa giải đối thoại được. Không được tiến hành hòa giải, đối thoại là trường hợp bị cấm, còn những trường hợp không bị pháp luật cấm nhưng vì lí do khách quan không thể tiến hành hòa giải, đối thoại được.


+ Tại điều 19 dự thảo Luật quy định về không tiến hành hòa giải trong đó có khoản 3" người khởi kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan...đã được mời tham gia hòa giải, đối thoại hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt hoặc không thể tham gia hòa giải, đối thoại". Đây là tình huống không thể tiến hành hòa giải, đối thoại được chứ không phải là không tiến hành hòa giải, đối thoại.


+ Tại khoản 4 điều 19 dự thảo Luật quy định "một bên vợ hoặc chồng trong tranh chấp li hôn là người mất năng lực hành vi dân sự" là tình huống không tiến hành hòa giải, đối thoại; tuy nhiên cần xác định đây là tình huống không tiến hành hòa giải, đối thoại được.


+ Tương tự các quy định tại khoản 5,6,7 của đ 19 Dự thảo luật nên đưa vào quy định của điều luật những trường hợp không tiến hành hòa giải, đối thoại được.


6. Về thủ tục ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành


-  Nên bỏ các điều quy định về ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành quy định tại các Điều 29, 30, 31, dự thảo luật và quyền kiến nghị của Viện kiểm sát, thủ tục giải quyết đề nghị, kiến nghị xem xét lại quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành quy định tại các Điều 33, 34 của dự thảo, vì các lý do sau:


+ Thứ nhất
: Hoạt động hòa giải, đối thoại quy định trong dự thảo luật này được thực hiện trước khi Tòa án thụ lý đơn khởi kiện của đương sự, do đó bản chất của hoạt động hòa giải, đối thoại ngoài tố tụng, không bị điều chỉnh bởi các quy định Bộ luật tố tụng dân sự và Luật tố tụng hành chính. Hòa giải viên hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; tôn trọng sự tự nguyện, thỏa thuận, thống nhất của các bên đương sự (Điều 3 dự thảo luật). Vì vậy, theo chúng tôi phạm vi điều chỉnh của Luật này chỉ bắt đầu sau khi Tòa án chuyển đơn khởi kiện đến Ban hòa giải, đối thoại (hoặc Tổ hòa giải, đối thoại) để tiến hành hòa giải đối thoại và chấm dứt sau khi kết thúc phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại và Hòa giải viên chuyển biên bản ghi nhận kết quả hòa giải đối thoại cho Tòa án. Còn đối với các quy định về ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành không phải là hoạt động của Hòa giải viên mà đây là hoạt động của Tòa án thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Luật tổ chức Tòa án; Luật tố tụng dân sự và Luật tố tụng hành chính nên không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này. Nếu luật này quy định phạm vi điều chỉnh cả trình tự, thủ tục ra quyết định hòa giải thành, đối thoại thành thì vô hình chung Tòa án giải quyết việc dân sự, vụ án hành chính không theo trình tự thủ tục tố tụng.


+ Thứ hai: Sau khi hòa giải, đối thoại thành, các bên có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định công nhận kết quả hòa giải, đối thoại thành thì đây là việc dân sự và vụ án hành chính nên Tòa án phải thụ lý, giải quyết theo trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự và Luật tố tụng hành chính.


- Do dự thảo Luật không quy định chức năng, nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hòa giải, đối thoại của Viện kiểm sát nhân dân nên Khoản 4 Điều 29 quy định Tòa án gửi Quyết định công nhận hoặc không công nhận kết quả hòa giải, đối thoại thành cho Viện kiểm sát, khoản 1 điểu 33 quy định về quyền kiến nghị của Viện kiểm sát, điều 34 quy định về thủ tục kiến nghị của Viện kiểm sát nhưng không quy định VKS cấp nào có thẩm quyền kiến nghị... là không phù hợp.


- Dự thảo Luật cần quy định đồng nhất cụm từ: “Thẩm phán phụ trách hòa giải” thay cho cụm từ:“Thẩm phán tham gia phiên họp” (Điều 26, Điều 27 và Điều 28) vì để phù hợp với quy định tại Điểm a Khoản 4 Điều 18.


7. Về việc xem xét lại Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành


Với nguyên tắc hòa giải, đối thoại là sự tự nguyện và là hoạt động tiền tố tụng trên cơ sở sự lựa chọn của các bên. Do đó, trong trường hợp một bên không đồng ý với Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành và có đơn đề nghị Tòa án thì vụ, việc được tiến hành thụ lý giải quyết theo thủ tục tố tụng. Vì vậy, không cần thiết phải quy định việc xem xét lại Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành để tránh việc kéo dài thời gian giải quyết vụ viêc, làm tăng thêm hoạt động tư pháp cũng như chi phí của ngân sách Nhà nước.


Tuy nhiên, như đã phân tích ở mục 1 và mục 8, hoạt động hòa giải, đối thoại theo điều chỉnh của Luật này nên chấm dứt ngay sau khi chuyển biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại thành cho Tòa án. Các hoạt động tiếp theo, tòa án thực hiện theo sự điều chỉnh của BLTTDS và Luật tố tụng hành chính. Vì vậy, nên bỏ quy định về xem xét lại QĐ công nhận kết quả hòa giải thành cũng như quy định về trình tự ra quyết định.


8. Về việc tham gia của Viện kiểm sát đối với hoạt động hòa giải, đối thoại tại Tòa án


Hoạt động hòa giải, đối thoại được điều chỉnh bởi Luật này là hoạt động tiền tố tụng; mặt khác, theo quy định BLTTDS và Luật tố tụng hành chính thì quyết định công nhận hòa giải, đối thoại thành, đương sự có quyền khiếu nại, VKS có thẩm quyền kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm do vậy không nên quy định về hoạt động kiểm sát của VKS trong Luật này. Trong trường hợp vẫn quy định thẩm quyền kiến nghị của Viện kiểm sát thì phải có quyd dịnh rõ về sự tham gia của VKS một cách cụ thể, đồng thời cần bổ sung quy định về việc Tòa án chuyển hồ sơ, tài liệu cho Viện kiểm sát.


9. Về các nội dung khác


Đề nghị QH cần nghiên cứu, thảo luận, cân nhắc kỹ xem có nên ban hành Luật này hay không, bởi vì:


- Trong hệ thống pháp luật Việt Nam đã có Luật Hòa giải ở cơ sở quy định biện pháp hòa giải để giải quyết toàn bộ các mâu thuẫn trong đời sống xã hội (trừ các trường hợp pháp luật quy định không được hòa giải – Điều 3 Luật Hòa giải ở cơ sở). Do đó, tại Điều 3 Luật Hòa giải ở cơ sở đã quy định biện pháp hòa giải ngoài tố tụng để giải quyết hầu hết các tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình mà dự thảo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án điều chỉnh thì Luật Hòa giải ở cơ sở cũng đã điều chỉnh. Ngoài ra, hòa giải còn được coi là biện pháp giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp bắt buộc được thực hiện trước tố tụng trong một số lĩnh vực hay phát sinh tranh chấp cũng đã được một số văn bản Luật quy định đó là Luật Đất đai đã bắt buộc phải hòa giải tại UBND cấp xã, nếu hòa giải không thành mới chuyển lên Tòa án giải quyết; Bộ luật Lao động cũng đã quy định tranh chấp lao động cá nhân, tranh chấp lao động tập thể về quyền và lơi ích đều phải thông qua thủ tục hòa giải để giải quyết; Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định hòa giải là một biện pháp giải quyết tranh chấp  giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng, Luật sở hữu trí tuệ, Luật Thương mại đều có quy định hòa giải là biện pháp giải quyết tranh chấp những quan hệ pháp luật mà các Luật này điều chỉnh. Đối với hòa giải trong tố tụng thì Bộ luật tố tụng dân sự đều đã quy định “Hòa giải” là thủ tục bắt buộc mà Thẩm phán phải thực hiện sau khi thụ lý yêu cầu khởi kiện các vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình, lao động… Ngoài ra, để tạo thuận lợi và khuyển khích việc hòa giải là phương pháp giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp về quyền lợi vật chất trong đời sống xã hội, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 còn có chế định công nhận hòa giải thành ngoài Tòa án (Chương XXXIII). Như vậy, có thể nói hệ thống pháp luật đã quy định đầy đủ về Hòa giải là biện pháp giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn ở các lĩnh vực, giai đoạn khác nhau. So sánh giữa Luật Hòa giải ở cơ sở với dự thảo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án có thể thấy phạm vi điều chỉnh và nhiệm vụ của Luật Hòa giải ở cơ sở và dự thảo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án có rất nhiều điểm tương đồng, điểm khác biệt duy nhất là dự thảo Luật điều chỉnh cả các tranh chấp hành chính thể hiện qua nội dung quy định về đối thoại hành chính. Nếu như trong dự thảo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án có sự tham gia của Thẩm phán khi Hòa giải viên tiến hành hòa giải thành công và lập biên bản hòa giải thành, sau khi hết thời hạn 05 ngày làm việc thì Thẩm phán ra Quyết định công nhận hòa giải, đối thoại thành. Đối với Luật Hòa giải ở cơ sở thì sau khi hòa giải thành công, các bên tham gia hòa giải hoàn toàn có thể vận dụng quy định tại Chương XXXIII Bộ luật Tố tụng dân sự để đề nghị Tòa án công nhận kết quả hòa giải ngoài Tòa án. Về mặt giá trị pháp lý các quyết định của Tòa án trong 02 trường hợp này đều có hiệu lực pháp luật như nhau.


- Mặt khác, cần cân nhắc thêm theo 2 góc độ:


+ Về góc độ ngân sách: chúng ta cũng cần tính toán nếu thực thi Luật hòa giải, đối thoại thì kinh phí có tiết kiệm hơn so với vẫn giao cho tòa án thực hiện như trước đây không? Vì nếu thực thi Luật này thì ngân sách nhà nước phải trả cho đội ngũ hòa giải viên, kinh phí xem xét tài sản, kinh phí cho các Trung tâm hòa giải, ...Thay vì hiện nay thì đội ngũ thẩm phán, thư ký tòa án vẫn thực hiện và họ được hưởng lương từ ngân sách nhà nước; kinh phí thẩm định tài sản do các đương sự chịu, chỉ có cơ chế khuyến khích cho thẩm phán và thư ký đối với các vụ việc hòa giải, đối thoại thành.


+ Về hiệu quả hoạt động hòa giải của các địa phương được giao thí điểm:  qua thời gian thí điểm ở một số địa phương, cần đối chiếu xem tổng số vụ việc do Trung tâm hòa giải tiến hành thành so với trước khi có Trung tâm thí điểm chỉ có do Tòa án tiến hành có tăng hơn nhiều không?


-  Ngoài ra, thực tế hiện nay, số lượng các Sinh viên tốt nghiệp Đại học Luật nhiều, nhưng vị trí việc làm cho các SV là hạn chế vì đang trong giai đoạn tinh giản biên chế, các cơ quan tư pháp tuyển dụng công chức, viên chức không nhiều, đặc biệt là ngành Tòa án và VKS. Thay vì, ban hành Luật hòa giải, đối thoại, chúng ta bổ sung biên chế cho Tòa án, cho VKS để các cơ quan này đủ lực lượng đáp ứng nhu cầu giải quyết các vụ việc trong đều kiện số vụ việc gia tăng vừa là để tạo công việc cho các SV mới tốt nghiệp, vừa giảm áp lực cho ngành TA và VKS.


Với các lí do trên, cần thận trọng cân nhắc để thấy được hiệu quả của hoạt động hòa giải, đối thoại tiền tố tụng trong thực tiễn; làm cơ sở Quyết định để thông qua Dự thảo Luật này.


                                                                                    Dương Thị Liên - Phó Viện Trưởng

Viện KSND tỉnh Nghệ An





 |  Đầu trang
 
Tin đã đưa:
 
 
 
 
thông báo
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
 
 
 
 
thư viện ảnh
Skip portletPortlet Menu