giới thiệu chung
Skip portletPortlet Menu
 
tin tức sự kiện
Skip portletPortlet Menu
 
lĩnh vực chuyên môn
Skip portletPortlet Menu
 
Thông tin
Skip portletPortlet Menu
 
liên kết website
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
 
 
 
 
tin chi tiết
Skip portletPortlet Menu
 
Những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Quy chế công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự (15/07/2021 10:05 AM)

Ngày 12/12/2017, Viện trưởng Viện KSND tối cao đã ký quyết định số 501/QĐ-VKSTC ban hành Quy chế công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự (Quy chế 501). Quy chế có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018.


Quy chế 501 ra đời, ngoài việc kế thừa những điểm còn giá trị và phù hợp của Quy chế 35 thì đã có những sửa đổi, bổ sung căn bản về phạm vi, đối tượng, nhiệm vụ, quyền hạn, nội dung... của công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự. Với 8 chương và 56 điều, Quy chế 501 đã có những quy định khá chi tiết và đầy đủ về cách thực hiện đối với từng lĩnh vực kiểm sát công tác tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự, cùng với một hệ thống biểu mẫu mới quy định cách sử dụng đối với từng trường hợp cụ thể đã giúp cho cán bộ, Kiểm sát viên, kiểm tra viên được phân công nhiệm vụ chủ động hơn trong công việc, nhất là mỗi năm công tác đã đề ra giải pháp mới giúp cho công tác kiểm sát đạt kết quả tốt hơn. Mặt khác, với hệ thống biểu mẫu mới và phụ lục thẩm quyền ký các đơn vị có sự thống nhất trong cách áp dụng, giúp cho Viện kiểm sát cấp trên thuận tiện trong việc tổng hợp, theo dõi và chỉ đạo. Hơn nữa, với những quy định chi tiết và chặt chẽ trong Quy chế giúp cho mối quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát và Nhà tạm giữ, cơ quan thi hành án hình sự, UBND cấp xã, Tòa án ngày càng chặt chẽ hơn, tháo gỡ được những bất cập, hạn chế; bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, tạm giam, phạm nhân.Qua đó công tác quản lý, giám sát, giáo dục người bị tạm giữ, tạm giam, người thi hành án được quan tâm, chú ý, tăng cường nhiều hơn và ngày càng đi vào nề nếp.


Tuy nhiên, qua thực tiễn thi hành, thấy Quy chế công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự, phụ lục thẩm quyền ký và hệ thống biểu mẫu nghiệp vụ cũng còn những khó khăn, vướng mắc cần có sự hướng dẫn, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, cụ thể:


1. Trong việc áp dụng các căn cứ pháp lý.


- Quy chế 501 và hệ thống biểu mẫu nghiệp vụ ban hành kèm theo Quyết định số 39/QĐ-VKSTC ngày 26/01/2018 của Viện trưởng Viện KSND tối cao về công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự đều áp dụng quy định của Luật thi hành án hình sự năm 2010. Tuy nhiên, đến nay Luật Thi hành án hình sự năm 2019 đã có hiệu lực. Vì vậy cần sửa đổi căn cứ áp dụng trong hệ thống biểu mẫu cho phù hợp.


- Luật đặc xá 2018 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2019 thay thế cho Luật đặc xá năm 2007 dẫn đến cần sửa đổi nội dung tại Điều 21 Quy chế 501 về kiểm sát việc đặc xá theo đúng quy định của Luật đặc xá 2018.


2. Trong công tác kiểm sát việc Tòa án giao, gửi bản án, quyết định; ra quyết định hoặc ủy thác ra quyết định thi hành án; gửi quyết định về thi hành án hình sự cho Viện kiểm sát, người bị kết án và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.


Quy chế 501 đã quy định trách nhiệm của Viện kiểm sát là phải kiểm sát các nội dung trên nhưng chưa quy định cách làm cụ thể như thế nào để kiểm sát tốt về việc gửi quyết định thi hành án hình sự cho người bị kết án, cơ quan, tổ chức cá nhân có liên quan. Tòa án thực hiện nghiêm túc việc giao, gửi bản án, quyết định, ra quyết định hoặc ủy thác ra quyết định thi hành và gửi các quyết định thi hành án đầy đủ cho Viện kiểm sát. Tuy nhiên, việc Tòa án có giao, gửi đầy đủ các bản án, quyết định về thi hành án cho người bị kết án, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thì Viện kiểm sát khó kiểm sát được mà chỉ thông qua trực tiếp kiểm sát thì mới phát hiện về nội dung này. Nhưng việc trực tiếp kiểm sát tại Cơ quan thi hành án hình sự và UBND cấp xã thì thực hiện theo định kỳ. Vì vậy, việc phát hiện vi phạm về gửi chậm hay không gửi thì Viện kiểm sát không thể kiểm sát ngay được.


Tại khoản 2 Điều 11 Quy chế 501 quy định: “Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác thi hành án, Viện kiểm sát cùng cấp với Toà án đã ra quyết định ủy thác phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án nhận ủy thác biết để kiểm sát. Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án nhận ủy thác phải thông báo lại cho Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án đã ủy thác biết việc đã nhận được thông báo”. Quy chế nêu rõ Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án nhận ủy thác phải thông báo lại cho Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án đã ủy thác biết việc đã nhận được thông báo, tuy nhiên thực tế còn tình trạng Viện kiểm sát nhận uỷ thác không thông báo lại cho Viện kiểm sát đã uỷ thác dẫn đến khó khăn trong việc kiểm sát việc thực hiện quyết định uỷ thác thi hành án hình sự của Toà án cùng cấp.


3. Việc thực hiện quy định về kiểm sát việc xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện.


Khoản 2, Điều 19 Quy chế 501quy định: “Viện kiểm sát thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 368 Bộ luật Tố tụng hình sự và các quy định của pháp luật khác có liên quan. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, quyết định hủy bỏ quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, quyết định rút ngắn thời gian thử thách cho người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu sao gửi quyết định đó cho Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện nơi người được tha tù trước thời hạn có điều kiện về cư trú hoặc Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, Viện kiểm sát quân sự khu vực có thẩm quyền biết để kiểm sát. Viện kiểm sát đã nhận được quyết định thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu biết việc đã nhận được quyết định”.


Mặc dù điều luật quy định trách nhiệm của Viện kiểm sát cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu sau khi nhận được quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, quyết định hủy bỏ quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, quyết định rút ngắn thời gian thử thách cho người được tha tù trước thời hạn có điều kiện thì sao gửi các quyết định đó để gửi về Viện kiểm sát cấp huyện được biết để thực hiện việc kiểm sát… Tuy nhiên, biểu mẫu trực tiếp kiểm sát việc thi hành án hình sự tại UBND cấp xã lại không ghi cụ thể nội dung kiểm sát việc tha tù trước thời hạn có điều kiện, nên các đơn vị Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện nơi có người được tha tù trước thời hạn có điều kiện về cư trú cũng chưa kiểm sát việc tha tù trước thời hạn có điều kiện.


4. Trong việc thực hiện chế độ đảm bảo hoạt động khi thực hiện công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự.


Khoản 1, Điều 54 Quy chế 501 quy định: “Khi thực hiện công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, công chức khác trong ngành Kiểm sát nhân dân được trang bị khẩu trang, găng tay cao su, ủng cao su và các dụng cụ, trang thiết bị cần thiết khác để phục vụ công tác và bảo đảm an toàn; được hưởng chế độ bồi dưỡng đặc thù theo quy định của pháp luật.”. Tuy nhiên, thực tế do nguồn kinh phí và cơ sở vật chất của đơn vị còn thiếu thốn nên việc trang bị các công cụ cần thiết để phục vụ công tác và bảo đảm an toàn cho Kiểm sát viên, kiểm tra viên, công chức khác theo các chế độ trên chưa được thực hiện.


5. Việc thực hiện quyền kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu của Viện kiểm sát.


- Quy chế 501 quy định việc Viện kiểm sát có quyền ban hành kiến nghị cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền và cá nhân có liên quan trong tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự nhưng biểu mẫu nghiệp vụ chỉ mới ban hành biểu mẫu kiến nghị đối với Cơ quan thi hành án hình sự, Tòa án, UBND cấp xã nhưng chưa có biểu mẫu kiến nghị đối với các cơ quan khác như UBND cấp huyện trong việc chỉ đạo các UBND cấp xã để thực hiện công tác thi hành án hình sự.


- Điều 44 Quy chế 501 quy định về trình tự kiểm sát việc thực hiện kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát nhưng trường hợp thông qua hoạt động kiểm sát Viện kiểm sát phát hiện có quyết định về thi hành án hình sự có vi phạm pháp luật và ban hành kháng nghị nhưng cơ quan bị kháng nghị không thực hiện việc hủy bỏ quyết định vi phạm pháp luật (không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát) thì Quy chế chưa có hướng dẫn về các thủ tục để thực hiện việc yêu cầu cơ quan bị kháng nghị chấp hành kháng nghị của Viện kiểm sát.


6. Việc thực hiện hệ thống biểu mẫu nghiệp vụ tại đơn vị.


Hệ thống biểu mẫu nghiệp vụ về công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự ban hành kèm theo Quyết định số 39/QĐ-VKSTC ngày 26/01/2018 của Viện trưởng Viện KSND tối cao. Với tổng biểu mẫu là 80, về cơ bản đã đáp ứng việc áp dụng biểu mẫu. Tuy nhiên, đối với biểu mẫu 44 “Kế hoạch trực tiếp kiểm sát việc thi hành án tại Cơ quan thi hành án hình sự” thì phụ lục kèm theo Kế hoạch không có phần thống kê về số liệu đối với tha tù trước thời hạn có điều kiện.


Một số lĩnh vực công tác không có hệ thống biểu mẫu, như: Quyết định phân công Kiểm sát viên tham gia Hội đồng thi hành án tử hình; báo cáo ban đầu về việc thi hành án tử hình; báo cáo ban đầu về người bị tạm giữ, tạm giam và phạm nhân chết nên chưa có sự thống nhất khi ban hành.


Để tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả, hiệu lực công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự, chúng tôi thiết nghĩ cần phải có hướng dẫn, sửa đổi, bổ sung nội dung Quy chế 501, phụ lục thẩm quyền ký và hệ thống biểu mẫu nghiệp vụ một cách phù hợp.Việc sửa đổi, bổ sung phải đảm bảo nghiêm túc, toàn diện, chính xác và hiệu quả.


 Ban tuyên truyền Phòng 8

Viện KSND tỉnh Nghệ An




 |  Đầu trang
 
Tin đã đưa:
 
 
 
 
thông báo
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
 
 
 
 
thư viện ảnh
Skip portletPortlet Menu